Anh Nguyễn Huy Sơn, lưu học sinh Việt Nam tại Đại học Ngoại thương Bắc Kinh, Trung Quốc đã dành riêng cho Báo Thế giới & Việt Nam bài viết chia sẻ về trách nhiệm của thanh niên hai nước Việt Nam và Trung Quốc trong việc tiếp tục phát huy truyền thống hữu nghị mà thế hệ tiền bối của hai nước đã dày công vun đắp. Nội dung chính như sau:
Những ngày đầu mới chập chững sang Bắc Kinh, tôi nhớ có lần nghe chia sẻ của một bạn sinh viên Trung Quốc học tiếng Việt: “Lúc nhỏ, tôi chỉ biết Việt Nam qua sách giáo khoa. Lớn lên, tôi biết Việt Nam qua phở, qua cà phê, qua nụ cười của bạn cùng phòng ký túc xá”. Nghe xong câu nói đó, tôi chợt thấy lòng mình dâng lên cảm xúc khó tả.
Tôi từng nghĩ về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc như một câu chuyện lớn: Những cuộc gặp cấp cao, những hiệp định thương mại hay những lô nông sản xuất khẩu. Nhưng có một câu chuyện khác, thầm lặng hơn, đẹp hơn và quan trọng hơn tất thảy: Câu chuyện của những người trẻ hai nước đang từng ngày viết nên một chương hữu nghị mới, bằng một mệnh lệnh thôi thúc từ trái tim.
Khởi nguồn của một tình cảm vượt biên giới
Qua các nguồn sử liệu, thế hệ trẻ chúng tôi được biết rằng, hai nước Việt Nam và Trung Quốc đã giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình đấu tranh giành độc lập và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước.
Năm 1924, chàng thanh niên Nguyễn Ái Quốc đã rời thủ đô Moscow, Nga đến Quảng Châu, Trung Quốc. Từ năm 2024-2027, Người hoạt động dưới tên gọi Lý Thụy trên danh nghĩa công khai là cán bộ phiên dịch trong Phái bộ của cố vấn Borodin, bên cạnh Chính phủ Tôn Trung Sơn.
Trong những năm đó, Người đã truyền bá học thuyết Mác-Lênin về phong trào giải phóng dân tộc, thành lập “Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội”. Bên cạnh việc sáng lập và tổ chức hoạt động của Hội, đồng chí Nguyễn Ái Quốc còn tiến hành đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán “thời dựng Đảng” cho cách mạng Việt Nam bằng việc mở các Lớp huấn luyện chính trị tại số nhà 13 và 13/1 đường Văn Minh (nay là số nhà 248 và 250).
Các khóa học do đồng chí Nguyễn Ái Quốc trực tiếp phụ trách lớp và là giảng viên chính, ngoài ra còn có một số cán bộ trong Đoàn cố vấn của Liên Xô và một số cán bộ của Đảng Cộng sản Trung Quốc như Chu Ân Lai, Lý Phú Xuân, Trương Thái Lôi, Trần Diên Niên…
Hãy thử hình dung: Một căn phòng nhỏ trên đường Văn Minh của Quảng Châu, những thanh niên Việt Nam say sưa lắng nghe từng bài giảng. Trên bục giảng, những người thầy đang ở độ tuổi đôi ba mươi, mang trong tim ngọn lửa cách mạng và không ngần ngại truyền lửa cho những học viên. Dù có điểm khác nhau về ngôn ngữ và văn hóa, nhưng họ giống nhau ở lý tưởng và khát vọng: Một ngày đất nước không còn bị áp bức và một ngày nhân dân được sống trong hòa bình, độc lập.
Và rồi, những “hạt giống” đầu tiên ấy đã đi xa hơn. Thế hệ thanh niên Việt Nam năm ấy trở về, đấu tranh và có cả hy sinh, nhưng họ đều đã làm nên những kỳ tích. Tôi tin rằng, tình cảm giữa những người vừa là “đồng chí”, vừa là “anh em” đó đã trở thành những hạt mầm đầu tiên cho tình hữu nghị Việt-Trung, từ đó được gieo trồng và nảy mầm, rồi đơm hoa và kết trái như ngày nay.
Niềm tự hào mang tên “Việt Nam”
Trải qua lớp lớp thế hệ cùng bao thăng trầm của lịch sử, tình hữu nghị Việt-Trung vẫn bền bỉ xanh tươi. Đến hôm nay, khi tôi – một thanh niên Việt Nam đang sinh sống và học tập tại Bắc Kinh, tôi mới thực sự thấm thía những gì cha ông đã dày công gây dựng. Bởi đứng ở đây, tôi được chứng kiến, được lắng nghe và được tự hào.
Sinh sống và học tập tại Bắc Kinh gần 3 năm, có cơ hội trao đổi với các giáo sư, học giả Trung Quốc và quốc tế, tôi càng thấm thía lời cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.
Một giáo sư người Trung Quốc từng nói với tôi: “Thầy theo dõi Việt Nam từ những ngày tem phiếu, kinh tế tập trung bao cấp, đến khi Đổi mới, rồi phát triển thành công như hôm nay. Đó không chỉ là kỳ tích kinh tế, mà đó là câu chuyện về ý chí của một dân tộc”.
Hay một người bạn Ethiopia không biết tiếng Việt nhưng lại đọc rành rọt từ “Điện Biên Phủ” như một thần thoại, nói với tôi rằng đó là nguồn cảm hứng cho cả châu Phi. Một giáo sư Philippines phải thốt lên: “Việt Nam quá giỏi, ngoại giao Việt Nam quá xuất sắc”, và một giáo sư Hy Lạp lúc nào gặp cũng hỏi thân tình: “Sơn ơi, Việt Nam dạo này phát triển nhanh đến đâu rồi?”
Đối với tôi, có một điều cũng quan trọng không kém, chính là sự kết nối hàng ngày với các bạn trẻ Trung Quốc ngay tại chính ngôi trường tôi đang học. Ở đây có một khoa tiếng Việt, chuyên giảng dạy ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam cho sinh viên từ khắp Trung Quốc.
Chúng tôi tổ chức định kỳ những buổi giao lưu giữa sinh viên Việt Nam và Trung Quốc. Nghe thấy các bạn nói tiếng Việt, hỏi về những di tích lịch sử-văn hóa, kể về những chuyến đi du lịch tại Việt Nam đầy háo hức, trong tôi cảm thấy rất tự hào.
Còn chúng tôi thì rộn ràng kể về phở, về cốm, về Hà Nội những ngày thu. Không khí ấy, giản dị mà ấm áp, khiến tôi chợt nghĩ: Hóa ra hữu nghị không chỉ nằm trong những văn kiện, mà nằm cả trong những nụ cười và lời chào hỏi, những câu nói vụng về bằng ngôn ngữ của nhau. Và chúng tôi cũng vinh dự vì được góp phần nhỏ bé của mình gieo tiếp những hạt mầm hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt-Trung.
Và cũng chính trong những khoảnh khắc ấy, đứng giữa trái tim một cường quốc, nhìn về quê nhà, tôi cảm thấy một thứ tình cảm dân tộc mãnh liệt dâng trào. Tôi nhận thấy giới học thuật và cả người dân Trung Quốc đều dành cho Việt Nam một sự quan tâm đặc biệt, đó là sự trân trọng và kính nể trước một dân tộc có bề dày lịch sử, có ý chí kiên cường và đang từng bước khẳng định vị thế của mình.
Và tôi cũng chợt nghĩ: Nếu không có những người đi trước đổ mồ hôi và cả xương máu để giữ gìn nền độc lập ấy, xây dựng nhịp cầu hữu nghị ấy, liệu hôm nay chúng tôi có được đứng đây để tự hào kể về Việt Nam?
Lưu học sinh Việt Nam tại Trung Quốc chúng tôi nhận được sự hỗ trợ, tạo điều kiện tận tình, hết mức từ Đảng ủy, lãnh đạo Đại sứ quán và bản thân tôi vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng, tôi càng ý thức rõ hơn trách nhiệm của mình trong việc góp phần vun đắp những “hạt giống” hữu nghị Việt-Trung từ những hành động nhỏ nhất.
Trách nhiệm gieo ‘cánh đồng hữu nghị’ ngày nay
Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Với thế và lực đất nước hiện có, thế hệ trẻ chúng tôi tin tưởng sâu sắc rằng: Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn nữa, đạt được những mục tiêu chiến lược đã đề ra và vững vàng “sánh vai với các cường quốc năm châu” như lời Bác Hồ kính yêu từng căn dặn.
Chúng tôi - những du học sinh Việt Nam tại Trung Quốc ý thức rõ rằng, chúng tôi không chỉ là người tiếp nhận tri thức, mà còn là một phần của dòng chảy lịch sử đang vận động. Mỗi bước tiến của đất nước đều đặt lên vai thế hệ trẻ một trách nhiệm cụ thể.
Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh: “Thanh niên hai nước có vinh dự và trách nhiệm tiếp nối, đưa quan hệ Việt-Trung lên tầm cao mới”. Dưới tinh thần dẫn dắt đó, chúng tôi nguyện nỗ lực học tập, rèn luyện, để có thể đóng góp thiết thực vào mục tiêu lớn hơn: “Đưa Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu và nền văn minh nhân loại”.
Không chỉ dừng lại ở khát vọng phát triển quốc gia, thế hệ trẻ Việt Nam-Trung Quốc chúng tôi cũng nhận thấy bản thân mình còn mang một sứ mệnh đặc biệt: Gìn giữ và bồi đắp tình hữu nghị giữa hai dân tộc.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã tin tưởng: “Thế hệ trẻ sẽ kế thừa truyền thống hữu nghị, mang đến tương lai tươi sáng cho quan hệ Việt-Trung” và “thanh niên là những ‘sứ giả văn hóa trẻ’, là nhịp cầu nối liền tình hữu nghị hai nước”. Chúng tôi luôn ghi nhớ những lời căn dặn ấy, bởi đó không chỉ là định hướng, mà còn là lời gửi gắm niềm tin sâu sắc.
Và có lẽ, sứ mệnh ấy sẽ không bắt đầu từ những điều quá lớn lao hay phi thường. Từ những “hạt giống đỏ” đầu tiên trong lịch sử cách mạng, đến trọng trách kiến tạo “cánh đồng hữu nghị” hôm nay, đó là một hành trình dài, có cả quả ngọt lẫn chông gai, nhưng cũng đầy tự hào.
Hải Yến