Thêm góc nhìn pháp lý vụ 500 sào dưa hấu đã 'cọc' 7,5 tỉ đồng bỏ chỏng chơ để trâu bò ăn

Thêm góc nhìn pháp lý vụ 500 sào dưa hấu đã 'cọc' 7,5 tỉ đồng bỏ chỏng chơ để trâu bò ăn
3 giờ trướcBài gốc
Liên quan vụ 500 sào dưa hấu đã “cọc” 7,5 tỉ đồng bỏ chỏng chơ để trâu bò ăn ở Gia Lai, Pháp Luật TP.HCM tiếp tục ghi nhận ý kiến pháp lý của các luật sư.
Luật sư LÊ HỮU NGHĨA, Đoàn Luật sư TP.HCM
Cần xác định 4 tỉ đồng chuyển trước là đặt cọc hay thanh toán
Theo nội dung được thể hiện trong văn bản viết tay về việc mua bán, các bên chỉ ghi nhận rằng: “nay tôi có chuyển 4 tỉ. Hẹn trong ngày thứ 2 chúng tôi sẽ chuyển trả đủ”.
Như vậy, các bên không xác định rõ đây là khoản tiền đặt cọc hay khoản tiền để thanh toán (một phần) giá trị mua bán. Để xác định bản chất của khoản tiền này, có thể dựa vào các căn cứ như: lời trình bày của các bên, nội dung khi chuyển khoản, tiền lệ của các giao dịch trước đây,…
Luật sư Lê Hữu Nghĩa, Đoàn Luật sư TP.HCM
Việc xác định bản chất của khoản tiền này có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết vụ việc. Bởi lẽ, nếu xác định đây là tiền đặt cọc, các bên sẽ căn cứ theo quy định tại Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS) để giải quyết.
Theo đó, nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc. Trường hợp bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc (trừ trường hợp có thỏa thuận khác).
Nếu có căn cứ để xác định đây là khoản tiền thanh toán trước: Trong giao dịch này, Bên mua đã thực hiện một phần lớn nghĩa vụ thanh toán của mình. Tuy nhiên, phía bên bán lại chưa bàn giao hàng hóa cho bên mua.
Theo quy định tại Điều 360 BLDS, bên vi phạm thỏa thuận có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại phát sinh gây ra cho bên còn lại (trừ trường hợp có thỏa thuận khác).
Đồng thời, bên mua có thể căn cứ theo quy định tại Điều 423 và Điều 427 BLDS để yêu cầu hủy bỏ hợp đồng và giải quyết hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng (các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bên bị thiệt hại do hành vi vi phạm của bên kia được quyền yêu cầu bồi thường).
Trong văn bản viết tay không thể hiện nội dung bên bán cam kết về sản lượng dưa phải đạt 2,5 tấn/sào. Tuy nhiên, việc thỏa thuận giữa các bên có thể được thể hiện thông qua nhiều hình thức như lời nói, tin nhắn... Nếu bên mua chứng minh được bên bán có cam kết về sản lượng dưa nhưng sau đó thực tế không đạt, bên mua có quyền yêu cầu hoàn trả số tiền đã nhận cùng với khoản tiền phạt cọc/bồi thường thiệt hại phát sinh (nếu có).
Ngược lại, nếu không chứng minh được bên bán có cam kết nội dung này, bên mua không thể dựa vào lý do dưa không đạt sản lượng để yêu cầu thay đổi hình thức mua bán. Bởi bên mua cũng đã được xem xét, đánh giá tình hình thực tế tại vườn dưa trước khi quyết định mua. Đồng thời, trong văn bản đã nêu rõ giá mua được xác định theo đơn vị sào và “giá 0 xin 0 bớt”. Văn bản này có giá trị hiệu lực để ràng buộc các bên phải thực hiện. Bên mua không thể đơn phương yêu cầu thay đổi nội dung hợp đồng đã giao kết.
Có thể thấy, giá trị mua bán của giao dịch này là không hề nhỏ. Tuy nhiên, các bên chỉ thỏa thuận một cách sơ sài và thiếu rất nhiều nội dung quan trọng. Việc này trên thực tế đã dẫn đến phát sinh tranh chấp giữa các bên.
Qua đây, người dân có thể nhận thức được tầm quan trọng của việc phải thỏa thuận rõ ràng, đầy đủ và minh bạch khi tham gia vào các giao dịch.
Việc thỏa thuận rõ ràng ngay từ đầu sẽ giúp cho các bên dễ dàng trong việc tuân thủ thực hiện, hạn chế phát sinh tranh chấp không đáng có. Mặc khác, nếu có xảy ra tranh chấp, việc thỏa thuận rõ ràng sẽ là cơ sở để bảo vệ được quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho bên bị vi phạm.
500 sào dưa hấu ở Gia Lai vứt đầy đồng vì bên mua và bên bán không tìm được tiếng nói chung, trong khi bên mua đã đưa trước cho bên bán 7,5 tỉ đồng. Ảnh: LÊ KIẾN
Luật sư TRẦN MINH HÙNG, Đoàn Luật sư TP.HCM
Nguy cơ mất cọc nếu đơn phương không thực hiện
Pháp luật dân sự hiện hành không bắt buộc hợp đồng mua bán nông sản phải lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Do đó việc các bên lập giấy viết tay ghi nhận thỏa thuận mua bán dưa hấu, nếu có đủ nội dung cơ bản và thể hiện ý chí tự nguyện, thì vẫn được xem là hợp đồng hợp pháp và có giá trị ràng buộc.
Luật sư Trần Minh Hùng, Đoàn Luật sư TP.HCM
Theo Điều 117 BLDS, một giao dịch dân sự có hiệu lực khi đáp ứng đủ 3 điều kiện: chủ thể có năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự; các bên hoàn toàn tự nguyện và mục đích, nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Trong trường hợp này, giấy viết tay thể hiện thỏa thuận về giá mua/sào và tiền đặt cọc đủ điều kiện là hợp đồng có hiệu lực pháp luật, trừ khi có căn cứ chứng minh hợp đồng bị lừa dối hoặc vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc hợp đồng.
Theo đó, các bên đã thỏa thuận giá mua theo đơn vị sào (17 triệu đồng/sào) và bên mua đã giao cho bên bán 7,5 tỉ đồng tiền đặt cọc. Khoản tiền này về mặt pháp lý được xác định là biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng theo quy định tại Điều 328 BLDS.
Theo điều luật này, đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền để bảo đảm việc giao kết hoặc thực hiện hợp đồng; hậu quả pháp lý của tiền đặt cọc phụ thuộc trực tiếp vào việc bên nào là bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.
Nếu hợp đồng đã được giao kết hợp pháp và bên bán (nhà vườn) sẵn sàng giao dưa theo đúng thỏa thuận ban đầu, nhưng bên mua từ chối nhận hàng hoặc yêu cầu thay đổi phương thức mua bán (từ mua theo sào sang mua theo kilogram) mà không được bên bán chấp thuận,về nguyên tắc, hành vi này được xem là đơn phương không thực hiện hợp đồng.
Trong trường hợp đó, theo khoản 2 Điều 328 BLDS, bên đặt cọc có nguy cơ mất toàn bộ tiền đặt cọc, trừ khi có thỏa thuận khác hoặc chứng minh được lỗi thuộc về bên nhận cọc.
Ngược lại, nếu bên mua chứng minh được rằng bên bán đã có cam kết cụ thể về sản lượng, năng suất hoặc chất lượng dưa nhưng thực tế không đáp ứng, khiến mục đích giao kết hợp đồng không đạt được, thì hành vi của bên bán có thể bị xem là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.
Khi đó, căn cứ khoản 2 Điều 328 BLDS, bên bán không chỉ phải hoàn trả tiền đặt cọc, mà còn có thể phải trả thêm một khoản tiền tương đương tiền cọc, đồng thời bồi thường thiệt hại nếu bên mua chứng minh được thiệt hại thực tế phát sinh.
Một vấn đề pháp lý quan trọng khác là yếu tố gian dối của nhà vườn liên quan đến sản lượng và diện tích thực tế.
Theo Điều 122 và Điều 127 BLDS, hợp đồng có thể vô hiệu do lừa dối nếu một bên cố ý dùng thông tin gian dối, che giấu sự thật quan trọng để làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên dẫn đến giao kết hợp đồng.
Trong trường hợp này, nếu thương lái chứng minh được rằng nhà vườn thực tế không đủ diện tích 500 sào và cố tính dấu hoặc năng suất thấp hơn cam kết, hoặc cố tình cung cấp thông tin sai về diện tích và sản lượng để nhận tiền đặt cọc, thì hợp đồng có thể bị tuyên vô hiệu theo Điều 122 BLDS.
Khi hợp đồng vô hiệu, theo Điều 131 BLDS, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, tức là bên bán phải trả lại tiền đặt cọc 7,5 tỉ và bên mua không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán còn lại.
Ngược lại, nếu nhà vườn chứng minh được việc sai lệch diện tích hay sản lượng không đạt là yếu tố khách quan và không nằm trong thỏa thuận ban đầu thì đây là một yếu tố pháp lý cần làm rõ.
Như vậy, vấn đề pháp lý then chốt trong vụ việc này nằm ở nội dung thỏa thuận về sản lượng và điều kiện mua bán, trong khi hợp đồng (giấy viết tay) lại không thể hiện rõ các điều khoản quan trọng như: sản lượng tối thiểu trên mỗi sào, tiêu chuẩn chất lượng dưa, thời điểm và phương thức giao nhận, cũng như cơ chế xử lý trong trường hợp sản lượng thấp hơn thỏa thuận.
Theo nguyên tắc nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự, bên nào cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì bên đó có nghĩa vụ chứng minh. Do đó, nếu bên mua cho rằng có thỏa thuận miệng về sản lượng, thì bên mua phải xuất trình được chứng cứ hợp pháp (tin nhắn, ghi âm, người làm chứng, vi bằng…) để chứng minh cho yêu cầu của mình. Trường hợp không chứng minh được, Tòa án sẽ căn cứ chủ yếu vào nội dung thể hiện trong hợp đồng đã ký để giải quyết vụ án.
Cân nhắc thương lượng hòa giải
Từ thực tế vụ việc, cả hai bên đều bị thiệt hại: nhà vườn mất dưa, thương lái mất tiền cọc và không nhận được hàng. Nguyên nhân chủ yếu là hợp đồng sơ sài và thiếu ràng buộc về sản lượng, chất lượng, thời điểm giao nhận, các bên thỏa thuận chưa rõ ràng, thiếu hiểu biết về pháp lý.
Vì vậy, các bên nên cân nhắc thương lượng hòa giải trước khi đưa vụ việc ra Tòa. Việc thương lượng có thể giúp giảm thiệt hại, thời gian và công sức, đồng thời rút kinh nghiệm về việc soạn thảo hợp đồng chặt chẽ, ghi nhận rõ sản lượng, chất lượng, thời hạn và cơ chế giải quyết tranh chấp trong tương lai.
Luật sư TRẦN MINH HÙNG, Đoàn Luật sư TP.HCM
THẢO HIỀN
Nguồn PLO : https://plo.vn/them-goc-nhin-phap-ly-vu-500-sao-dua-hau-da-coc-75-ti-dong-bo-chong-cho-de-trau-bo-an-post897107.html