Trực thăng MH-60S Sea Hawk chuẩn bị hỗ trợ cuộc tấn công vào Iran. Ảnh: Reuters.
Gần 4 tuần sau khi chiến dịch “Cơn thịnh nộ dữ dội” bắt đầu, Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố Washington đang đàm phán với Tehran, trong khi vẫn triển khai hàng nghìn binh sĩ tới Trung Đông.
Theo Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM), hơn 10.000 mục tiêu chiến lược và 140 tàu Iran đã bị phá hủy. Đáp trả, Tehran liên tục tập kích bằng drone và phong tỏa Eo biển Hormuz - nơi chiếm 20% lượng dầu thế giới.
Trước tình thế này, Washington đang chuyển sang thắt chặt hiện diện trên bộ với sự hỗ trợ của tàu sân bay USS George H.W. Bush, nhóm tác chiến tàu sân bay USS Abraham Lincoln, theo Al Jazeera.
Hiện vẫn chưa rõ liệu tàu Bush sẽ hội quân cùng hay thay thế một trong hai tàu sân bay Mỹ hiện có mặt tại khu vực - những tàu vốn đã tham gia các chiến dịch tác chiến chống Iran trong vài tuần qua.
CNN ngày 27/3 cho biết tàu sân bay USS George H.W. Bush sẽ tiến vào khu vực gần nơi đang diễn ra xung đột với Iran.
Máy bay của Hải quân Mỹ thuộc Không đoàn 9 đang đậu trên boong tàu sân bay lớp Nimitz USS Abraham Lincoln để hỗ trợ chiến dịch. Ảnh: Hải quân Mỹ/ Reuters.
3 lực lượng, một chiến trường
Trước khi các cuộc không kích bắt đầu, ông Trump đã thể hiện ý định: “Chúng ta có một lực lượng lớn đang hướng về Iran… rất nhiều tàu đang đi theo hướng đó”.
Sau khi không quân Mỹ tấn công đảo Kharg đầu tháng 3, ông Trump tuyên bố lực lượng Mỹ đã “xóa sổ” các mục tiêu quân sự tại đây, đồng thời cảnh báo cơ sở hạ tầng dầu mỏ có thể bị tấn công tiếp theo nếu Iran không mở lại eo biển.
Ngày 24/3, Lầu Năm Góc ra lệnh điều khoảng 2.000 binh sĩ từ Sư đoàn Dù 82 tới Trung Đông. Đợt triển khai này bổ sung cho hai Đơn vị Viễn chinh Thủy quân Lục chiến (MEU) vốn đã trên đường đến từ hai phía Thái Bình Dương.
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth xác nhận CENTCOM đã yêu cầu tăng cường để mở rộng phương án tác chiến.
Trong cuộc họp báo trước Quốc hội, Ngoại trưởng Marco Rubio cho biết Mỹ có thể phải trực tiếp “thu giữ” vật liệu hạt nhân bên trong Iran.
Dù chưa có chiến dịch trên bộ nào được phê duyệt, việc tập hợp lực lượng thủy quân lục chiến, lính dù tinh nhuệ và cấu trúc chỉ huy cấp sư đoàn cho thấy Mỹ đang mở rộng đáng kể các lựa chọn quân sự.
Lực lượng tăng cường tới Vùng Vịnh bao gồm 3 đơn vị. Mỗi đơn vị có nơi xuất phát, lộ trình và thời gian khác nhau.
Đơn vị đầu tiên là Nhóm Sẵn sàng Tấn công Đổ bộ Tripoli, tập trung quanh tàu tấn công lớp America USS Tripoli và Đơn vị Viễn chinh Thủy quân Lục chiến 31 (MEU).
Được lệnh xuất phát từ Sasebo (Nhật Bản) vào ngày 13/3, đơn vị này đã đi qua eo biển Malacca và đến Diego Garcia tại Lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc Anh vào ngày 23/3. Dự kiến, nhóm tiến vào khu vực phụ trách của CENTCOM vào cuối tháng 3 hoặc đầu tháng 4.
Đơn vị thứ hai là Nhóm Sẵn sàng Tấn công Đổ bộ Boxer, xoay quanh tàu tấn công lớp Wasp USS Boxer và Đơn vị Viễn chinh Thủy quân Lục chiến 11 (11th MEU), đóng tại Nam California, Mỹ.
Nhóm này khởi hành từ San Diego vào khoảng ngày 19 đến 20/3. Với quãng đường khoảng 22.200 km, nhóm dự kiến tới khu vực chiến sự sớm nhất là giữa tháng 4.
Đơn vị thứ ba là khoảng 2.000 binh sĩ thuộc Lực lượng Phản ứng Nhanh của Sư đoàn dù 82, đóng tại Fort Bragg, Bắc Carolina, Mỹ. Đây là lực lượng tăng cường mới nhất của Mỹ tới khu vực.
Cả hai nhóm thủy quân lục chiến trên sẽ bổ sung khoảng 4.500 lính và thủy thủ cho Mỹ tại khu vực. Kết hợp với lực lượng Sư đoàn Dù 82, gần 7.000 binh sĩ bổ sung đã được triển khai kể từ khi xung đột bắt đầu.
USS Tripoli và Đơn vị Viễn chinh 31
USS Tripoli, tàu tấn công đổ bộ lớp America, là tàu lớn hơn trong hai tàu thủy quân lục chiến đang hướng tới Vùng Vịnh.
Dài 261 m và nặng 45.000 tấn, USS Tripoli có thể hoạt động như tàu sân bay hạng nhẹ cho máy bay F-35B trong khi đồng thời triển khai lính thủy đánh bộ bằng đường không và đường biển.
Tàu tấn công đổ bộ USS Tripoli (LHA-7). Ảnh: Edgar Su/Reuters.
Đơn vị 31st MEU bao gồm lính thủy đánh bộ và thủy thủ, hoạt động cùng tiểu đoàn tăng cường gồm pháo, xe lội nước và các đơn vị chuyên biệt.
Đặt căn cứ tại Sasebo cùng với tàu USS New Orleans, nhóm này là một phần của lực lượng triển khai tiền tuyến của Hải quân Mỹ ở phía tây Thái Bình Dương.
Đây cũng là đơn vị viễn chinh duy nhất của thủy quân lục chiến Mỹ được triển khai thường trực ở bên ngoài. Trước đây, lực lượng này từng tham gia chiến dịch Desert Fox năm 1998, tuần tra ngoài khơi Kuwait trong khủng hoảng thanh sát vũ khí Iraq.
USS Boxer và Đơn vị Viễn chinh 11
Nhóm thứ hai xoay quanh tàu USS Boxer, tàu tấn công lớp Wasp đóng tại San Diego, Mỹ.
Nhóm này còn có USS Comstock và USS Portland, mang theo Đơn vị 11th MEU, đóng tại căn cứ Camp Pendleton, California.
USS Boxer rời San Diego ngày 19/3 và theo giới chức Mỹ, đợt triển khai này đã được đẩy nhanh khoảng 3 tuần so với kế hoạch ban đầu.
Giống USS Tripoli, USS Boxer có thể triển khai tiêm kích F-35B cùng trực thăng và nhiều nền tảng hỗ trợ khác.
Lực lượng 11th MEU có kinh nghiệm tác chiến dày dạn tại Vùng Vịnh. Trong giai đoạn 1990-1991, đơn vị tham gia chiến dịch đổ bộ đánh lửa nhằm ghìm chân lực lượng Iraq dọc bờ biển Kuwait.
Chiến dịch này diễn ra sau khi Iraq xâm chiếm Kuwait và khi đó huy động hơn 700.000 binh sĩ từ 35 quốc gia.
Tháng 8/2004, 11th MEU dẫn đầu các hoạt động tại tỉnh Najaf (Iraq) và ở lại đây đến tháng 2/2005.
Việc tập hợp lực lượng cho thấy Mỹ đang mở rộng đáng kể các lựa chọn quân sự. Ảnh: Thủy quân lục chiến Mỹ.
Sư đoàn dù 82
Sư đoàn dù 82, đóng tại Fort Bragg, là lực lượng nòng cốt của Quân đoàn Dù XVIII, Lục quân Mỹ.
Khoảng 2.000 binh sĩ thuộc lực lượng phản ứng nhanh của đơn vị này đã được lệnh tới Trung Đông.
Đơn vị cấp lữ đoàn này có khoảng 3.000 binh sĩ, có thể triển khai bất cứ đâu trên thế giới trong 18 giờ. Sư đoàn dù 82 chuyên thực hiện nhiệm vụ đột kích đường không, chiếm sân bay và kiểm soát địa bàn cho các lực lượng tiếp theo.
Tuy nhiên, do không mang theo xe tăng và vũ khí hạng nặng trong giai đoạn đầu triển khai, họ khó có thể giữ khu vực trước các cuộc phản công.
Các lực lượng này có thể làm gì?
Theo các chuyên gia, việc tăng quân hiện nay nhằm tập trung vào một số nhiệm vụ cụ thể, chứ chưa phải chuẩn bị cho cuộc chiến trên bộ quy mô lớn.
Ruben Stewart, học giả cao cấp về chiến tranh trên bộ tại Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS), nhận định thời điểm này, khả năng mở chiến dịch trên bộ thấp.
Ông chỉ ra rằng cuộc chiến Iraq năm 2003 cần tới khoảng 160.000 binh sĩ cho một quốc gia chỉ bằng 1/4 diện tích Iran. Trong khi đó, lực lượng hiện triển khai, không kể lực lượng hỗ trợ, chỉ gồm hai tiểu đoàn thủy quân lục chiến và hai tiểu đoàn lính dù.
Theo ông, đây là lực lượng phù hợp với các hoạt động riêng lẻ, giới hạn thời gian.
“Cả hai là lực lượng phản ứng nhanh, được thiết kế cho cuộc đột kích, chiếm địa bàn quan trọng và nhiệm vụ ngắn hạn với sự hiện diện hạn chế sau đó”, Stewart nói.
Sư đoàn Dù 82 trong cuộc tập trận tại Romania năm 2024. Ảnh: Quân đội Mỹ.
Ông cũng lưu ý sự thiếu vắng của lực lượng thiết giáp hạng nặng, hệ thống hậu cần và cấu trúc chỉ huy cho một cuộc chiến trên bộ kéo dài.
“Trên thực tế, đây là lực lượng có thể hành động nhanh chóng và có chọn lọc, nhưng không đủ khả năng duy trì các hoạt động sâu bên trong Iran hoặc trong thời gian dài”, ông cho hay.
3 kịch bản có thể xảy ra
Dù chưa có lệnh tác chiến trên bộ, quy mô và thành phần lực lượng cho thấy Mỹ có thể đang cân nhắc ít nhất 3 phương án.
Chúng bao gồm chiếm giữ hoặc phong tỏa đảo Kharg, giải phóng bờ biển Iran để mở lại Eo biển Hormuz, và trong kịch bản nghiêm trọng nhất là thu giữ vật liệu hạt nhân của Iran.
Đảo Kharg, nằm cách bờ biển tây nam Iran khoảng 26 km, chiếm khoảng 90% lượng dầu xuất khẩu của Iran.
Các cuộc không kích của Mỹ hồi đầu tháng này đã gây thiệt hại cho cơ sở hạ tầng quân sự tại đây, bao gồm cả sân bay.
Ngoài Kharg, lực lượng thủy quân lục chiến Mỹ có thể tiến hành các cuộc tấn công bằng trực thăng nhằm vào địa điểm phóng tên lửa, kho chứa thủy lôi và tàu chiến tốc độ cao của Iran dọc theo Eo biển Hormuz.
Ông Stewart cho biết trong 3 phương án, việc đảm bảo an ninh Eo biển Hormuz là kịch bản hoạt động thực tế nhất.
Điều này có thể sẽ bao gồm “các hoạt động hạn chế dọc theo Eo biển Hormuz, như bảo vệ khu vực biển trọng yếu hoặc ngăn chặn mối đe dọa đối với hoạt động vận chuyển hàng hải”, ông nói.
Ông Stewart nói thêm việc chiếm đảo Kharg, về lý thuyết, là khả thi nhưng sẽ làm leo thang căng thẳng hơn, do vị trí địa lý quan trọng của hòn đảo này đối với xuất khẩu dầu mỏ của Iran.
"Ngược lại, việc thu giữ vật liệu hạt nhân của Iran sẽ là điều ít khả thi nhất với lực lượng này vì nó đòi hỏi sự hiện diện trên bộ quy mô lớn hơn và kéo dài hơn nhiều", ông Stewart cho biết.
Nhìn chung, ông cho rằng “nguy cơ leo thang cao nhất đến từ các cuộc tấn công vào những hạ tầng chiến lược như đảo Kharg hoặc cơ sở hạt nhân, bởi điều này nhiều khả năng sẽ kích hoạt phản ứng mạnh hơn từ Iran”.
Phát biểu của Ngoại trưởng Marco Rubio về việc thu giữ vật liệu hạt nhân cũng làm dấy lên khả năng chiến dịch nhắm vào cơ sở trọng yếu của Iran, bao gồm Natanz, Fordow và Trung tâm Công nghệ Hạt nhân Isfahan. Các địa điểm này trước đó từng bị không kích.
Đô đốc James Stavridis, cựu tư lệnh tối cao lực lượng đồng minh NATO, cảnh báo trong bài viết gần đây trên Bloomberg rằng bất cứ cuộc tấn công nào vào đảo Kharg sẽ phải đối mặt với “các đợt tấn công quy mô lớn bằng thiết bị bay không người lái, tàu nhỏ chở chất nổ và tên lửa” trong quá trình di chuyển qua eo biển.
Bên cạnh đó, theo ông Stewart, việc tăng cường lực lượng quân sự đang diễn ra song song với tiến trình ngoại giao nhiều bất định, và nên được hiểu là “đòn bẩy gây sức ép hơn là quyết định chiến tranh”.
“Bằng cách điều thêm lực lượng vào khu vực, Mỹ đang gia tăng sức mạnh đàm phán, phát tín hiệu rằng họ có nhiều lựa chọn nếu ngoại giao thất bại”, ông nói.
Tuy nhiên, ông cảnh báo việc tiếp tục tăng cường quân sự cũng có thể làm tăng nguy cơ leo thang ngoài ý muốn hoặc làm giảm tính linh hoạt ngoại giao.
Minh An