Giải pháp “tiền tươi, thóc thật”
Định giá carbon và phát triển thị trường carbon là một trong năm giải pháp chính, được Thủ tướng đưa ra để thực hiện cam kết đưa mức phát thải ròng về “0” (Net-zero) vào năm 2050, theo cam kết tại Hội nghị COP26 năm 2021.
Với giải pháp này, doanh nghiệp và tổ chức thực hiện dự án giảm phát thải hiệu quả sẽ nhận được phần tài chính tương ứng với hiệu quả giảm phát thải. Ngược lại, đơn vị có lượng phát thải vượt quá định mức cho phép, sẽ phải chịu phần chi phí tài chính tương đương – giúp họ có động lực giảm phát thải dựa trên “tiền tươi, thóc thật”.
Việt Nam ước tính có thể bán ra 57 triệu tín chỉ carbon và thu về hàng trăm triệu đô la mỗi năm. Ảnh: H.P
Trên thế giới, khoảng 80 quốc gia đã áp dụng cơ chế định giá carbon, chủ yếu dưới hình thức đánh thuế carbon và thị trường carbon. Đáng chú ý, các cơ chế này có xu hướng “toàn cầu hóa”, thể hiện dưới hình thí cơ chế điều chỉnh carbon xuyên biên giới (CBAM) của EU, với yêu cầu doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa sang thị trường EU phải chịu phần thuế carbon chênh lệch.
“Các giải pháp định giá carbon kiểm soát khoảng 28% lượng phát thải khí nhà kính mỗi năm và tạo ra thị trường quy mô 152 tỷ USD. Những con số này khẳng định hiệu quả của công cụ tài chính carbon trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu”, TS Nguyễn Tuấn Quang, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và môi trường (NN&MT) nói tại một hội thảo về thị trường carbon trong kỷ nguyên mới.
Những chuyển động tại Việt Nam
Tại Việt Nam, khi tín chỉ carbon xuất hiện ở hình hài sơ khai là CER, loạt dự án đã được triển khai theo chứng nhận cơ chế phát triển sạch (CDM) và bán CER cho đối tác quốc tế.
Chẳng hạn, tại dự án thu hồi khí đồng hành tại mỏ Rạng Đông, được triển khai năm 1997, khí đồng hành được thu hồi để sản xuất khí hóa lỏng, dung môi pha xăng hoặc phân đạm, thay vì đốt ngay tại mỏ.
Đến năm 2010, CERs của mỏ Rạng Đông được bán đấu giá thành công với đơn giá 13,5 Euro cho nhà đầu tư Thụy Sĩ, đem về 5 triệu Euro cho chủ đầu tư dự án là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (nay là Tập đoàn Công nghiệp năng lượng quốc gia Việt Nam - PVN) và Tổng công ty Thăm dò và khai thác dầu khí (PVEP).
Thu hoạch lúa trong mô hình thí điểm đề án 1 triệu héc ta lúa chất lượng cao ở ĐBSCL. Ảnh: Trung Chánh
Bên cạnh đó, một số dự án đăng ký theo các cơ chế tự nguyện, như Gold Standard và Verra, cũng được triển khai. Điển hình là dự án bếp sạch và vòi lọc nước cho đồng bào cùng cao của Công ty Intraco và một số đối tác, đã bán thành công tín chỉ carbon cho Citi Group của Mỹ.
Gần đây, vào cuối năm 2023, hơn 10 triệu tấn khí thải carbon giảm thải được từ rừng khu vực Bắc Trung Bộ được chuyển nhượng cho Ngân hàng Thế giới (WB) qua Thỏa thuận chi trả lượng giảm phát thải khí nhà kính (ERPA). Thương vụ này, dù chưa thể coi là dự án tín chỉ carbon, nhưng “tiền tươi, thóc thật” đã được chia đều cho bà con trồng rừng, bảo vệ rừng ở sáu tỉnh (cũ) vùng Bắc Trung Bộ, cho thấy lợi ích kinh tế thực sự từ việc giữ rừng để hấp thụ carbon.
Bên cạnh dự án trên, một dự án tương tự đang được triển khai tại vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên để chi trả tiền giảm phát thải cho người dân giữ rừng.
Ngoài ra, nhiều hệ sinh thái giảm phát thải tự nhiên, như: rừng ngập mặn vùng Đồng bằng sông Cửu Long, các rặng san hô ven biển cũng đang được người dân địa phương tích cực bảo tồn, chờ ngày được công nhận chính thức bằng tín chỉ carbon.
Theo dự báo của Bộ NN&MT, Việt Nam có thể bán được 57 triệu tín chỉ carbon mỗi năm, qua đó thu về khoảng 300 triệu đô la Mỹ hoặc cao hơn, nếu giá bán tín chỉ carbon cao hơn.
“Mảnh ghép” pháp lý còn dang dở
Trước cơ hội huy động nguồn lực lớn cho phát triển kinh tế xanh và tuần hoàn, Chính phủ và các ngành chức năng đã ban hành loạt văn bản pháp lý nền tảng, gồm: Luật Bảo vệ môi trường 2020, lần đầu ghi nhận thị trường carbon trong nước; Nghị định 06/2022 quy định lộ trình và cơ chế vận hành thị trường carbon; Quyết định 232/2025 của Thủ tướng phê duyệt Đề án phát triển thị trường carbon giai đoạn 2025–2030.
Từ góc nhìn chuyên gia, PGS. TS Nguyễn Đình Thọ, Phó viện trưởng, Viện Chiến lược, chính sách nông nghiệp và môi trường (ISPAE), đánh giá Quyết định 232 đã định hướng chiến lược tổng thể, mục tiêu cụ thể và các nhóm nhiệm vụ then chốt để vận hành thị trường carbon.
Ngoài ra, Nghị định số 119/2025 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozone cũng góp phần cụ thể hóa và quy định rõ ràng về yêu cầu kỹ thuật và tổ chức liên quan kiểm kê, giám sát, báo cáo, thẩm định phát thải khí nhà kính.
Hơn nữa, gần 200 cơ sở thuộc lĩnh vực xi măng, sắt thép và nhiệt điện sẽ phải kiểm kê và bị áp hạn ngạch khí thải trong giai đoạn 2025-2026, là bước nền tảng để chuẩn bị cho thị trường carbon bắt buộc.
Tuy nhiên, nhiều ý kiến đánh giá những khung khổ pháp lý trên vẫn chưa đủ để thiết lập một thị trường carbon đúng nghĩa, nơi việc phát thải – giảm phát thải được ghi nhận và chi trả theo cơ chế thị trường công bằng, minh bạch.
Thực tế, một doanh nghiệp sản xuất mía đường tại tỉnh Thanh Hóa từng lên kế hoạch chuyển nhượng tín chỉ carbon cho đối tác, nhưng gặp vướng mắc ở khâu cấp phép triển khai dự án, vì cơ quan chức năng cũng lúng túng trong bối cảnh chưa có khung pháp lý cụ thể.
Tương tự, bà Võ Hoàng Nga, Giám đốc ESG của TTC AgriS, cho biết quá trình thử nghiệm mô hình giao dịch tín chỉ carbon giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) cũng không hề suôn sẻ do thiếu khung pháp lý rõ ràng và sự hướng dẫn cụ thể từ các cơ quan chức năng. Ngay cả khi thực hiện thủ tục xin cấp phép dự án, các bên liên quan cũng gặp lúng túng.
Bên cạnh khoảng trống pháp lý, một điểm yếu khác được PGS. TS Nguyễn Đình Thọ chỉ ra là thiếu cơ chế tài chính, để triển khai các giải pháp giảm phát thải khí nhà kính, như: tín dụng xanh, trái phiếu xanh. Trong khi đó, tín chỉ carbon đang được bán với giá thấp, không đủ hấp dẫn để thu hút doanh nghiệp tham gia.
Đồng quan điểm với ông Thọ, ông Hồ Quang Cua cho biết mô hình lúa – tôm tại bán đảo Cà Mau, do ông và các cộng sự triển khai, dù đã thực hiện đúng các tiêu chí giảm phát thải canh tác lúa của Bộ Nông nghiệp và môi trường, nhưng vẫn chưa đo đếm được con số giảm phát thải thực sự là bao nhiêu.
Do đó, ông rất mong mô hình của mình được kiểm đếm và bán tín chỉ carbon cho doanh nghiệp, để nông dân thực sự hưởng lợi từ thành quả giảm phát thải, làm nông nghiệp “thuận thiên”, nông nghiệp tuần hoàn.
Tuy nhiên, trước khi đến đưa sản phẩm ra thị trường, ông Cua và các cộng sự cần phải xác định rõ mình có bao nhiêu “hàng” để bán. Đây cũng là nút thắt cho nhiều dự án giảm phát thải khi chưa có khung đo đếm cụ thể và không phải đơn vị nào cũng có đầy đủ nguồn lực về công nghệ, tài chính và trình độ để tự đo đếm.
Vân Phong