Thoát lũ phải là nền tảng của mọi quy hoạch ven sông Hồng

Thoát lũ phải là nền tảng của mọi quy hoạch ven sông Hồng
2 giờ trướcBài gốc
Trao đổi với Người Đô Thị, GS-TS. Phạm Hồng Giang, nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy lợi, nguyên Phó Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam, cho rằng quy hoạch ven sông Hồng không thể chỉ nhìn từ góc độ giao thông hay bất động sản, mà phải đặt trong tổng thể biến động lòng dẫn, khả năng thoát lũ và các kịch bản thủy văn dài hạn trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
Không gian thoát lũ: “Giới hạn cứng” của quy hoạch ven sông Hồng
Thưa GS-TS. Phạm Hồng Giang, hiện nay trong các định hướng quy hoạch hai bên sông Hồng, yếu tố thoát lũ đã thực sự được đặt ở vị trí trung tâm hay chưa?
GS-TS. Phạm Hồng Giang, nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy lợi, nguyên Phó Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.
GS-TS. Phạm Hồng Giang: Tôi chưa có điều kiện tiếp cận đầy đủ hồ sơ quy hoạch nên chưa thể khẳng định cụ thể. Tuy nhiên, qua những thông tin công bố công khai, tôi có cảm giác các đề xuất hiện nay đang quan tâm nhiều đến giao thông, đất đai, dân cư và phát triển kinh tế - xã hội, trong khi vấn đề thoát lũ chưa được đặt ra một cách đầy đủ và tương xứng.
Trong khi đó, đối với sông Hồng, thoát lũ phải là nền tảng của toàn bộ quy hoạch. Nếu xử lý không đúng, rủi ro sẽ không chỉ nằm ở một dự án ven sông mà có thể ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn của toàn bộ khu vực nội đô Hà Nội.
Theo ông, một quy hoạch ven sông Hồng “đầy đủ” cần phải đặt ra bài toán thoát lũ như thế nào?
Trước hết phải có phương án tính toán thoát lũ thật chi tiết và cập nhật theo điều kiện mới. Hiện nay lòng dẫn sông Hồng đang biến đổi khá mạnh, trong khi biến đổi khí hậu khiến các kịch bản lũ cực đoan ngày càng khó dự báo.
Theo tôi, vấn đề không phải là cấm tuyệt đối hay phát triển bằng mọi giá, mà là phải tính toán thật khoa học để bảo đảm dòng lũ vẫn có đủ không gian thoát an toàn khi cần thiết.
GS-TS. Phạm Hồng Giang
Con số lưu lượng khoảng 20.000 m³/s chỉ là cơ sở tính toán hiện nay, nhưng trong tương lai hoàn toàn có thể xuất hiện những tình huống vượt mức đó. Vì vậy quy hoạch phải tính được phần nào dành cho thoát lũ, phần nào có thể khai thác dân sinh, đồng thời chuẩn bị các kịch bản ứng phó nếu xuất hiện lũ lớn hơn thiết kế.
Nếu không tính toán đầy đủ, nguy cơ mất an toàn cho hệ thống đê và khu vực nội thành là điều rất đáng lo ngại.
Có ý kiến cho rằng “giới hạn lớn nhất” của đại lộ sông Hồng chính là không gian thoát lũ. Theo ông, các thông số như lưu lượng 20.000 m³/s hay mực nước lũ thiết kế 13,4 m đang ràng buộc quy hoạch đô thị hai bên sông ở mức độ nào?
Không gian thoát lũ về nguyên tắc chính là khu vực giữa hai tuyến đê. Đây là không gian tự nhiên để dòng lũ có thể thoát đi khi nước lớn.
Tuy nhiên, lũ lớn không phải năm nào cũng xảy ra. Trong phần lớn thời gian, khu vực bãi sông là một không gian rất rộng, trong khi Hà Nội lại có nhu cầu lớn về phát triển kinh tế, dân sinh và hạ tầng đô thị. Vì vậy mới đặt ra bài toán làm thế nào để vừa khai thác được quỹ đất ven sông, vừa không làm mất chức năng thoát lũ.
Theo tôi, vấn đề không phải là cấm tuyệt đối hay phát triển bằng mọi giá, mà là phải tính toán thật khoa học để bảo đảm dòng lũ vẫn có đủ không gian thoát an toàn khi cần thiết.
Không gian giữa hai tuyến đê sông Hồng vừa là quỹ đất phát triển đô thị, vừa là hành lang thoát lũ chiến lược của Thủ đô. Ảnh: Quang Thái
Nhiều khu vực bãi sông hiện đã hình thành hoạt động dân sinh và cư trú lâu năm, đặt ra bài toán cân bằng giữa nhu cầu phát triển và yêu cầu bảo đảm thoát lũ. Ảnh: Quang Minh (Arttimes)
Nhiều nghiên cứu cho thấy hình thái sông Hồng đang biến động mạnh, lòng dẫn thay đổi theo thời gian và chịu tác động của biến đổi khí hậu. Điều này ảnh hưởng như thế nào đến các kịch bản quy hoạch dài hạn?
Đây là vấn đề rất đáng lo ngại. Những năm gần đây, tình trạng khai thác cát quá mức đã khiến đáy sông bị bào mòn mạnh, có nơi hạ thấp từ bốn mươi centimet đến cả mét. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến ổn định lòng dẫn, hệ thống công trình ven sông cũng như khả năng lấy nước cho sản xuất nông nghiệp.
Bên cạnh đó là hiện tượng sạt lở bờ sông ngày càng phức tạp. Hai yếu tố này cho thấy hình thái sông Hồng đang thay đổi mạnh chứ không còn ổn định như trước. Những biến động đó cần được đưa vào như một thành phần bắt buộc của quy hoạch đô thị ven sông. Tuy nhiên hiện nay vấn đề này dường như vẫn chưa được đề cập đầy đủ.
Một số chuyên gia cũng đã đề xuất nghiên cứu hệ thống đập dâng ở thượng lưu từ Thượng Cát trở lên và dưới Xuân Quan nhằm giữ mực nước sông Hồng không xuống quá thấp, hạn chế tác động môi trường và ổn định dòng chảy. Đây là hướng cần được xem xét nghiêm túc hơn trong tương lai.
Nhiều ý kiến cho rằng cần cải tạo, nâng cấp hệ thống đập Đáy nhằm khôi phục chức năng phân lũ, giảm áp lực cho sông Hồng và tăng khả năng phòng chống lũ cho khu vực Hà Nội. Trong ảnh: Công trường Đập Đáy năm 1935. Ảnh: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I
Ngày 10.9.2024, mực nước sông Hồng qua TP Hà Nội dâng cao, vượt mốc lịch sử năm 1968. Đoạn bãi bồi dưới chân cầu Long Biên, nhiều ngôi nhà chìm trong biển nước. Người dân dừng lại trên câu Long Biên vì bất ngờ trước cảnh nước lũ dâng cao. Ảnh: Báo Tin tức
Theo quy định, khu vực giữa hai tuyến đê phải được duy trì như không gian thoát lũ tự nhiên. Tuy nhiên, trong nhiều đề xuất hiện nay, người dân mong muốn kết hợp chỉnh trang và phát triển tại chỗ khu vực bãi sông. Điều này tác động thế nào đến khả năng thoát lũ?
Về nguyên tắc, nếu giữ nguyên mặt cắt giữa hai tuyến đê thì dòng lũ vẫn sẽ thoát theo quy luật tự nhiên. Hệ thống đê sông Hồng hiện nay là kết quả của quá trình hình thành và gia cố qua nhiều thế hệ.
Tuy nhiên, giữa hai tuyến đê hiện tồn tại quỹ đất rất lớn, có nơi bãi sông rộng hàng chục kilomet. Vì vậy việc đặt vấn đề khai thác không gian này cho dân sinh là điều dễ hiểu.
Theo tôi vấn đề quan trọng là phải nghiên cứu thật nghiêm túc để tìm ra cách sử dụng hợp lý mà vẫn bảo đảm khả năng thoát lũ. Không thể xem toàn bộ bãi sông như đất đô thị thông thường, nhưng cũng không nên để một không gian lớn như vậy hoàn toàn bị bỏ ngỏ.
Bài toán phân lũ cho Thủ đô
Theo ông, có thể tồn tại một phương án vừa bảo đảm thoát lũ, vừa khai thác hiệu quả không gian ven sông hay không?
Muốn giải bài toán này phải nhìn toàn bộ hệ thống thủy văn chứ không chỉ riêng đoạn sông qua Hà Nội. Khi lũ lớn xuất hiện, phải tính được phần nước đi theo dòng chính, phần nào có thể phân lũ hoặc trữ lũ để giảm áp lực cho khu vực nội đô.
Các chuyên gia cho rằng quy hoạch ven sông Hồng cần đặt trong bối cảnh rủi ro lũ cực đoan và biến đổi khí hậu ngày càng khó dự báo. Ảnh: Vietnamfinance
Trong hệ thống đó, sông Đáy có vai trò rất quan trọng. Về địa hình, sông Hồng nằm cao hơn sông Đáy nên về tự nhiên nước luôn có xu hướng chảy sang lưu vực này. Trước đây người Pháp đã xây đập Đáy để điều tiết dòng chảy, tức là khi cần thì mở để phân lũ, còn mùa khô thì giữ nước lại cho sông Hồng.
Mặc dù vậy công trình này nhiều năm vận hành không hiệu quả, khiến sông Đáy gần như mất dần vai trò thoát lũ và có nguy cơ trở thành “dòng sông chết”. Theo tôi, nếu muốn giảm áp lực cho sông Hồng thì phải nghiên cứu cải tạo lại hệ thống điều tiết ở đập Đáy.
Việc này không chỉ giúp phục hồi dòng chảy sông Đáy mà còn tạo thêm hướng thoát lũ cho sông Hồng, qua đó giảm áp lực cho quy hoạch hai bên bờ sông trong tương lai.
Có ý kiến cho rằng trong tương lai cần tính đến các giải pháp phân lũ hoặc vùng chậm lũ quy mô lớn để bảo vệ Hà Nội. Ông nhìn nhận thế nào về hướng tiếp cận này?
Trên thế giới đã có nhiều mô hình kiểm soát lũ rất hiện đại, đặc biệt ở Hà Lan. Tuy nhiên, với điều kiện Việt Nam hiện nay, theo tôi điều quan trọng nhất vẫn là tận dụng hợp lý các điều kiện tự nhiên và hệ thống hiện có.
Trước đây miền Bắc từng có các vùng chậm lũ, vùng chứa lũ để giảm áp lực cho sông Hồng khi nước dâng quá lớn. Nhưng trên thực tế, việc chủ động đưa nước vào vùng dân cư là quyết định rất khó vì liên quan trực tiếp đến an toàn và đời sống người dân.
Do đó, nếu muốn sử dụng các giải pháp phân lũ trong tương lai thì phải có quy hoạch rất dài hạn, hệ thống điều tiết đủ mạnh và cơ chế vận hành cực kỳ chặt chẽ. Quan trọng nhất vẫn là chủ động kiểm soát dòng chảy từ sớm, thay vì để đến khi lũ vượt ngưỡng mới xử lý tình huống khẩn cấp.
Bãi bỏ các vùng phân lũ, chậm lũ của hệ thống sông Hồng
Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành văn bản hợp nhất số 47/VBHN-BNNMT về việc bãi bỏ sử dụng các khu phân lũ, chậm lũ thuộc hệ thống sông Hồng sau khi thủy điện Sơn La tham gia nhiệm vụ cắt lũ cho hạ du.
Theo đó, các khu chậm lũ Tam Thanh, Lập Thạch (Phú Thọ), Lương Phú – Quảng Oai, Ba Vì (Hà Nội) cùng hệ thống phân lũ sông Đáy sẽ không còn áp dụng như trước đây theo Nghị định 62/1999/NĐ-CP.
Thay vào đó, chiến lược phòng chống lũ được chuyển sang vận hành liên hồ chứa gồm Sơn La, Hòa Bình, Tuyên Quang và Thác Bà nhằm kiểm soát lưu lượng lũ trên sông Hồng. Quy định hiện hành yêu cầu lưu lượng tại trạm Hà Nội không vượt quá 20.000 m³/s và mực nước sông Hồng tại Hà Nội không vượt quá 13,4 m.
Cùng với đó, Chính phủ yêu cầu cải tạo, nâng cấp hệ thống sông Đáy và đập Đáy nhằm tăng khả năng phân lũ, cấp nước và cải thiện môi trường dòng chảy. Hệ thống sông Đáy được định hướng có khả năng tiếp nhận tối đa khoảng 2.500 m³/s trong các tình huống lũ lớn vượt tần suất thiết kế hoặc khi xảy ra sự cố nghiêm trọng đối với hệ thống đê điều Hà Nội.
Trang Ngọc thực hiện
Nguồn Người Đô Thị : https://nguoidothi.net.vn/thoat-lu-phai-la-nen-tang-cua-moi-quy-hoach-ven-song-hong-52766.html