Thu nghìn tỉ nhưng khoa học công nghệ 'nhỏ giọt'

Thu nghìn tỉ nhưng khoa học công nghệ 'nhỏ giọt'
5 giờ trướcBài gốc
LTS: Trong bối cảnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là trụ cột phát triển quốc gia, nhiều cơ sở đại học đã nỗ lực mở rộng hoạt động nghiên cứu, gia tăng công bố, sáng chế và kết quả ứng dụng. Tuy vậy, hiệu quả thực chất bằng nguồn thu vẫn còn rất khiêm tốn, chưa tương xứng tiềm lực.
Thực tế, Nghị quyết 57/2024 của Bộ Chính trị và cụ thể hóa bằng Nghị quyết 193/2025 của Quốc hội đã được kỳ vọng tháo gỡ nhiều điểm nghẽn lâu nay trong hoạt động nghiên cứu và thương mại hóa kết quả khoa học. Thế nhưng, khoảng cách từ chính sách đến thực tiễn vẫn còn hiện hữu, đặt ra yêu cầu cần nhìn thẳng vào những rào cản còn tồn tại để khoa học công nghệ thực sự trở thành nguồn lực phát triển của các đại học.
Báo cáo công khai tài chính ở nhiều cơ sở giáo dục đại học (ĐH) cho thấy, những năm gần đây, tổng nguồn thu tăng hàng năm, không ít đơn vị vào tốp có nguồn thu nghìn tỉ đồng mỗi năm. Thế nhưng, học phí vẫn là nguồn lực chủ yếu, còn khoa học công nghệ (KHCN) chiếm tỉ trọng rất nhỏ.
Học phí vẫn “gánh” tài chính đại học
Thống kê từ ĐH Bách khoa Hà Nội, tổng thu hoạt động năm 2024 đạt đến 1.503 tỉ đồng, tăng nhẹ so với năm trước đó. Tuy nhiên, trong cơ cấu, nguồn thu từ hoạt động giáo dục và đào tạo (học phí, lệ phí…) vẫn chiếm tỉ trọng áp đảo với hơn 1.343 tỉ đồng, gần 90% tổng thu.
Trong khi đó, quy mô hoạt động KHCN của trường khá lớn. Số lượng công bố khoa học tiếp tục duy trì ở mức cao với gần 1.000 bài báo thuộc danh mục WoS/Scopus, thế nhưng, nguồn thu từ KHCN chỉ khoảng 101 tỉ đồng, đạt tỉ trọng theo báo cáo là 9,3%. Đáng chú ý, phần lớn nguồn thu này đến từ các nhiệm vụ, đề tài sử dụng ngân sách Nhà nước (hơn 62 tỉ đồng), trong khi nguồn thu từ hợp tác với doanh nghiệp và bên ngoài đạt khoảng 38,5 tỉ đồng.
Tương tự, Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM), dù là cơ sở đào tạo trọng điểm về công nghệ, kỹ thuật phía Nam nhưng tỉ trọng nguồn thu từ KHCN khá khiêm tốn. Theo báo cáo công khai, tính đến hết năm 2024, tổng thu hoạt động của nhà trường đạt 1.184 tỷ đồng. Trong đó, thu từ giáo dục và đào tạo chiếm hơn 1.054 tỷ đồng, riêng học phí và lệ phí chiếm đến 873 tỷ đồng.
Đáng chú ý, năng lực nghiên cứu của trường mạnh, với 1.167 công bố WoS/Scopus trong năm 2024, trường có 5 bằng độc quyền sáng chế và 5 bằng giải pháp hữu ích. Thế nhưng, nguồn thu từ KHCN của trường ở năm 2024 chỉ 126,4 tỉ đồng, trong đó hơn 49 tỉ đồng từ nguồn ngân sách nhà nước. Và đến tháng 5-2025, tỉ trọng nguồn thu KHCN theo báo cáo đạt 10,5%.
Một giờ thực hành nghiên cứu của thầy, trò tại ĐH Quốc gia TP.HCM. Ảnh: T.CÚC
Không đứng ngoài tình hình chung, Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM cũng ghi nhận mức doanh thu tăng trưởng vượt bậc nhưng vẫn dựa trọng tâm vào nguồn thu từ người học. Trong năm 2024, tổng thu hoạt động của nhà trường đã vượt mốc nghìn tỷ khi đạt hơn 1.031 tỷ đồng. Tuy nhiên, hoạt động giáo dục và đào tạo (học phí, lệ phí…) chiếm khoảng 88% tổng nguồn thu. Thu từ KHCN chỉ đạt 24,37 tỷ đồng, đạt tỉ trọng 4,6%.
Bước sang năm 2025, dù tổng thu dự kiến tăng lên 1.348,9 tỷ đồng, nhưng tỷ trọng từ hoạt động KHCN khoảng 56,1 tỷ đồng, đạt tỉ trọng 5,68%.
Tại Trường ĐH Tôn Đức Thắng cũng ghi nhận tổng thu của trường đạt hơn 1.224 tỷ đồng nhưng trong đó, thu từ KHCN chỉ ở mức 44,84 tỷ đồng, đạt tỉ trọng theo báo cáo là 5,7%.
Tại Trường ĐH Công nghệ Kỹ thuật TP.HCM, năm 2024, trường chính thức gia nhập "câu lạc bộ nghìn tỷ" với tổng thu 1.120 tỷ đồng, tăng đáng kể so với mức 909 tỷ đồng của năm trước đó. Tuy nhiên, đóng góp vào con số khổng lồ này chủ yếu là học phí và lệ phí chiếm đến gần 87% và nguồn thu từ mảng KHCN chỉ đạt 46 tỷ đồng.
Khả quan hơn, tại ĐH Kinh tế TP.HCM, tổng thu hoạt động năm 2024 đạt khoảng 1.887 tỉ đồng, tăng mạnh so với mức 960 tỉ đồng của năm 2021. Đáng chú ý, trong số này, nguồn thu từ KHCN đạt khoảng 520 tỉ đồng, tuy nhiên cơ cấu bên trong cho thấy phần lớn lại đến từ các khoản “thu khác”, còn nguồn thu trực tiếp từ hợp đồng nghiên cứu, tài trợ từ Nhà nước và bên ngoài vẫn ở mức khá khiêm tốn, chỉ hơn 40 tỉ đồng.
Ở nhóm trường ngoài công lập, tỉ lệ đóng góp của KHCN cũng rất thấp. Như Trường ĐH Công nghệ TP.HCM đạt nguồn thu hơn 1.380 tỉ đồng ở năm 2024 nhưng có đến gần 95% thu từ giáo dục và đào tạo (học phí, lệ phí...) và Trường ĐH Nguyễn Tất Thành mức thu này chiếm tới 99,14%.
Thống kê thu – chi tài chính của một trường đại học tư thục tại TP.HCM cho thấy nguồn thu từ KHCN rất hạn chế
Vì sao chưa bứt phá nguồn thu?
Lý giải về thực trạng nguồn thu từ KHCN tại các trường đại học hiện nay còn hạn chế, theo PGS.TS. Trịnh Ngọc Nam - Trưởng phòng Quản lý khoa học và Hợp tác quốc tế, Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM, cho rằng doanh thu KHCN của trường hiện nay đã đạt được mục tiêu về tỉ trọng theo quy định của Bộ GD&ĐT.
Tuy nhiên, PGS.TS Nam cũng cho rằng quá trình phát triển doanh thu KHCN không chỉ là con số, mà là cơ cấu chất lượng của doanh thu đó.
Theo ông Nam, nguyên nhân cốt lõi nằm ở khoảng cách giữa nhà khoa học và doanh nghiệp. “Bản chất của khoa học là tìm kiếm tính mới, trong khi doanh nghiệp lại cần những giải pháp có thể ứng dụng ngay vào thực tiễn. Sự chênh lệch này khiến nhiều nghiên cứu khó tìm được đầu ra phù hợp với nhu cầu thị trường” – PGS Nam lý giải.
Bên cạnh đó, quá trình chuyển giao công nghệ đòi hỏi chi phí lớn cho việc hoàn thiện sản phẩm, thử nghiệm quy mô và phát triển thị trường. Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa đủ năng lực tài chính hoặc chưa sẵn sàng chấp nhận rủi ro khi đầu tư vào công nghệ mới.
Một hạn chế khác, theo ông Nam, là thiếu những tổ chức hoặc nhân sự trung gian có khả năng kết nối hiệu quả giữa trường ĐH và doanh nghiệp. “Cần những người có thể ‘nói được cả hai ngôn ngữ’, vừa hiểu nghiên cứu khoa học vừa hiểu nhu cầu của doanh nghiệp để thúc đẩy chuyển giao công nghệ hiệu quả” - ông nhận định.
Cũng như nhiều trường ĐH khác, TS Quách Thanh Hải, Phó Hiệu trưởng, Trường ĐH Công nghệ Kỹ thuật TP.HCM, cho biết hoạt động KHCN của trường thời gian qua đạt nhiều kết quả tích cực, với hơn 1.100 bài báo khoa học công bố năm 2025, khoảng 50% trong đó đăng trên các tạp chí thuộc danh mục Scopus/WoS. Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận khoảng cách giữa nghiên cứu trong trường và nhu cầu của thị trường còn khá lớn.
Theo ông Hải, nhiều kết quả nghiên cứu vẫn thiên về học thuật và phục vụ công bố khoa học hơn là giải quyết trực tiếp bài toán của doanh nghiệp. Bản thân nhiều doanh nghiệp vẫn e ngại hợp tác với trường ĐH do họ cần các giải pháp có tính ứng dụng cao, triển khai nhanh và hiệu quả kinh tế rõ ràng. Nhiều nghiên cứu ở trường mới dừng ở quy mô phòng thí nghiệm, quá trình hoàn thiện sản phẩm cần nhiều thời gian và kinh phí lớn.
Ngoài ra, các quy định liên quan đến tài chính, sở hữu trí tuệ, định giá tài sản khoa học công nghệ và phân chia quyền lợi vẫn chưa thật sự rõ ràng.
“Chính sự khác biệt về mục tiêu, cách tiếp cận và cơ chế vận hành giữa trường ĐH và doanh nghiệp đã khiến quá trình chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn” – TS Hải nhận định.
Ngoài ra, năng lực hấp thụ công nghệ của nhiều doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, còn hạn chế nên chưa mạnh dạn đầu tư cho nghiên cứu và phát triển.
Ông Hải cũng cho rằng nhiều nhà nghiên cứu còn thiếu kinh nghiệm về nghiên cứu thị trường, marketing và xây dựng kênh phân phối nên gặp khó khi đưa sản phẩm ra thị trường.
Thống kê số lượng công bố khoa học và doanh thu chuyển giao công nghệ của ĐH Quốc gia TP.HCM những năm qua
Cần xác định tài sản trí tuệ là nguồn lực chiến lược
Thống kê từ Trung tâm Sở hữu trí tuệ và Chuyển giao công nghệ (ĐH Quốc gia TP.HCM), đến năm 2024, hệ thống ĐH Quốc gia TP.HCM đã hình thành 572 tài sản trí tuệ được ghi nhận (bao gồm sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, bản quyền phần mềm). Trong đó có 288 văn bằng bảo hộ được cấp, tỷ lệ thương mại hóa ước đạt khoảng 10%, với nhiều kết quả nghiên cứu đã được cấp phép cho doanh nghiệp trong các lĩnh vực vật liệu, y sinh, tự động hóa.
Theo đơn vị này, tỉ lệ thương mại hóa tài sản trí tuệ ở Việt Nam mới đạt khoảng 10%, vẫn thấp hơn mức 30–40% của các ĐH nghiên cứu tiên tiến trên thế giới.
Nguyên nhân, theo đơn vị này, nhiều cơ sở đào tạo chưa xem tài sản trí tuệ là tài sản chiến lược; chưa có bộ phận chuyên và cơ chế rõ ràng về sở hữu và phân chia lợi ích từ kết quả nghiên cứu; sự lỏng lẻo trong mối liên kết giữa ĐH và doanh nghiệp.
Kinh phí cho đăng ký, duy trì, bảo hộ và thương mại hóa sáng chế còn thấp; nhận thức của giảng viên và sinh viên về giá trị của tài sản trí tuệ còn hạn chế; chưa hình thành hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp dựa trên tài sản trí tuệ, khiến nhiều ý tưởng sáng tạo dừng lại ở mức nghiên cứu, không được thương mại hóa…
Để biến KHCN thành động lực phát triển theo tinh thần Nghị quyết số 57/2024, đơn vị này cho rằng các trường cần xác định tài sản trí tuệ là nguồn lực chiến lược, thúc đẩy hình thành các doanh nghiệp khởi nguồn từ ĐH (spin-off).
Các trường cần xây dựng đơn vị chuyên trách về sở hữu trí tuệ, phát triển vườn ươm công nghệ, hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm hỗ trợ khởi nghiệp, tăng cường kết nối doanh nghiệp và xây dựng cơ chế khuyến khích, khen thưởng đối với các cá nhân thương mại hóa thành công kết quả nghiên cứu.
PHẠM ANH
Nguồn PLO : https://plo.vn/thu-nghin-ti-nhung-khoa-hoc-cong-nghe-nho-giot-post910960.html