Đã triển khai nhưng còn nhiều hạn chế
Khách hàng có thể truy xuất nguồn gốc sản phẩm sữa tươi qua ứng dụng NDA Trace. Ảnh: Ngọc Anh
Theo Thông tư số 02/2024/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ, truy xuất nguồn gốc là hoạt động giám sát và xác định được một đơn vị sản phẩm hoặc dịch vụ qua từng công đoạn theo thời gian và địa điểm trong quá trình sản xuất, chế biến, lưu trữ, vận chuyển, phân phối và kinh doanh.
Có thể hiểu một cách đơn giản, truy xuất nguồn gốc là quá trình thu thập, lưu trữ và cung cấp thông tin về toàn bộ vòng đời của sản phẩm, từ nguồn nguyên liệu, quá trình sản xuất đến vận chuyển và phân phối. Nhờ đó, cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người tiêu dùng có thể kiểm tra và xác thực thông tin sản phẩm một cách minh bạch.
Sau hơn 5 năm triển khai Đề án 100 triển khai áp dụng và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc, Việt Nam đã từng bước hình thành hạ tầng truy xuất nhằm nâng cao năng lực quản lý hàng hóa trong chuỗi cung ứng. Nhiều doanh nghiệp đã triển khai các hệ thống truy xuất nguồn gốc riêng, phổ biến nhất là việc gắn mã QR trên bao bì sản phẩm để người tiêu dùng có thể kiểm tra thông tin khi mua sắm.
Tuy nhiên, sự phát triển của các hệ thống truy xuất hiện nay vẫn còn mang tính phân tán và thiếu chuẩn hóa. Phần lớn các hệ thống mới chỉ cung cấp thông tin ở một số khâu nhất định của chuỗi cung ứng, trong khi dữ liệu chủ yếu do doanh nghiệp tự khai báo và thiếu cơ chế kiểm chứng độc lập. Bên cạnh đó, mỗi hệ thống lại sử dụng chuẩn dữ liệu và mã định danh khác nhau, khiến thông tin bị phân mảnh và khó liên thông giữa các chủ thể như nhà sản xuất, doanh nghiệp logistics, nhà phân phối và cơ quan quản lý.
Mô hình hoạt động hệ thống truy xuất nguồn gốc của VN Check. Ảnh: VN Check
Theo ông Mai Quang Thịnh, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần VN Check – đơn vị cung cấp nền tảng truy xuất nguồn gốc sản phẩm nông nghiệp, việc ứng dụng công nghệ trong truy xuất nguồn gốc tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng đã có nhiều bước tiến trong những năm gần đây, tuy nhiên mức độ phổ biến vẫn chưa thực sự đồng đều; chủ yếu tập trung ở một số doanh nghiệp lớn, trong khi nhiều cơ sở sản xuất nhỏ vẫn gặp khó khăn về chi phí và công nghệ.
Ông Nguyễn Phú Dũng, Tổng giám đốc Công ty cổ phần PILA- đơn vị cung cấp giải pháp về blockchain cho biết, hiện trong cùng một chuỗi cung ứng có thể cùng tồn tại nhiều hệ thống truy xuất nhưng không thể kết nối với nhau.
Khi xảy ra các sự cố liên quan đến chất lượng sản phẩm hoặc an toàn thực phẩm, việc truy vết và xác minh thông tin thường phải thực hiện qua nhiều kênh khác nhau, gây tốn thời gian và làm giảm hiệu quả quản lý.
Tình trạng hàng hóa kém chất lượng, không rõ xuất xứ và dữ liệu truy xuất thiếu liên thông vẫn còn tồn tại. Những khoảng trống này đang đặt ra yêu cầu phải xây dựng các giải pháp truy xuất nguồn gốc minh bạch và đáng tin cậy hơn cho chuỗi cung ứng tại Việt Nam
Cần một nền tảng dữ liệu chung
NDATrace - nền tảng định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa, được xây dựng trên hạ tầng blockchain NDAChain và nền tảng định danh phi tập trung NDADID. Ảnh: NDA
Những hạn chế trên cho thấy nhu cầu cấp thiết phải xây dựng một nền tảng truy xuất nguồn gốc dùng chung, có khả năng chuẩn hóa, liên thông và xác thực dữ liệu trên toàn bộ chuỗi cung ứng. Khi các bên tham gia chuỗi cung ứng cùng sử dụng một chuẩn dữ liệu thống nhất, việc chia sẻ, kiểm tra và xác minh thông tin sẽ trở nên nhanh chóng và minh bạch hơn.
Cũng theo ông Nguyễn Phú Dũng, một trong những thách thức lớn nhất của các hệ thống truy xuất nguồn gốc hiện nay là độ tin cậy của dữ liệu, khi phần lớn thông tin vẫn do doanh nghiệp tự khai báo và lưu trữ trong các hệ thống riêng lẻ. Trong bối cảnh đó, blockchain đang được xem là một hướng tiếp cận hiệu quả để tăng tính minh bạch và khả năng xác thực dữ liệu.
Blockchain hoạt động dựa trên cơ chế lưu trữ dữ liệu phân tán và bất biến. Thay vì được quản lý bởi một tổ chức duy nhất, dữ liệu được ghi nhận và xác thực bởi nhiều nút trong mạng lưới, bảo đảm tính toàn vẹn của dữ liệu, qua đó tăng mức độ minh bạch và độ tin cậy của thông tin.
Ngoài ra, nhiều chủ thể tham gia trong chuỗi cung ứng có thể tham gia cập nhật và xác thực thông tin trên cùng một hạ tầng. Nhờ đó, thông tin truy xuất từ nguồn nguyên liệu, quá trình sản xuất đến vận chuyển và phân phối có thể được ghi nhận và kiểm chứng một cách đáng tin cậy. Chính những đặc tính đó khiến blockchain được xem là nền tảng công nghệ phù hợp để xây dựng các hệ thống truy xuất nguồn gốc hiện đại.
Hiện nay, một trong những giải pháp đang được phát triển theo hướng này là NDATrace - nền tảng định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa, được xây dựng trên hạ tầng blockchain NDAChain và nền tảng định danh phi tập trung NDADID.
NDATrace cho phép ghi nhận dữ liệu truy xuất nguồn gốc trên blockchain, bảo đảm tính minh bạch và toàn vẹn của thông tin. Đồng thời, nền tảng cho phép nhiều bên trong chuỗi cung ứng cùng kết nối và xác thực dữ liệu trên một hệ thống.
Từ đó, NDATrace hướng tới trở thành nền tảng truy xuất nguồn gốc dùng chung, nơi doanh nghiệp và cơ quan quản lý có thể chia sẻ và kiểm chứng dữ liệu sản phẩm trên một hệ thống. Đặc biệt, mỗi sản phẩm sẽ được gắn một mã định danh duy nhất (NDATrace UID), đóng vai trò như “danh tính số” của sản phẩm trong suốt vòng đời. Nhờ đó, người tiêu dùng có thể dễ dàng kiểm tra nguồn gốc của sản phẩm, trong khi doanh nghiệp và cơ quan quản lý có thể theo dõi dòng chảy hàng hóa theo thời gian thực.
Về chính sách quản lý, ông Mai Quang Thịnh đề xuất, sớm hoàn thiện, công bố khung pháp lý về tiêu chuẩn kỹ thuật về truy xuất nguồn gốc theo hướng thống nhất; các hệ thống truy xuất cần tuân thủ chuẩn dữ liệu chung để có thể kết nối, chia sẻ thông tin giữa các địa phương, bộ ngành và doanh nghiệp, tránh tình trạng mỗi nơi triển khai một nền tảng riêng lẻ.
Cùng với đó là xây dựng và kết nối các nền tảng dữ liệu truy xuất nguồn gốc giữa trung ương, địa phương và doanh nghiệp; hình thành các cổng dữ liệu tập trung giúp tạo hệ sinh thái truy xuất minh bạch, đồng thời hỗ trợ quản lý, kiểm soát chất lượng và chống gian lận thương mại.
Có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất, đặc biệt là các đơn vị nhỏ và vừa, trong việc tiếp cận công nghệ, đào tạo kỹ năng số và giảm chi phí áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa. Tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức của người tiêu dùng để truy xuất nguồn gốc trở thành một tiêu chí quan trọng khi lựa chọn sản phẩm, qua đó tạo động lực cho doanh nghiệp tham gia.
Việt Nga