Những con heo chết cứng, tím xanh được xẻ vội trên nền xi măng dơ bẩn làm cho người xem rùng mình. Những tảng thịt ươn, bốc mùi được giao thẳng đến các công ty sản xuất suất ăn công nghiệp khiến người nghe cảm thấy buồn nôn. Đó là cảm giác khi xem xong loạt bài điều tra “Thịt bẩn luồn lách đến bữa ăn” trên báo Pháp Luật TP.HCM.
Chưa bao giờ niềm tin vào thực phẩm của người Việt Nam lại xuống thấp như hiện nay. Là một nước nông nghiệp, lẽ ra người dân phải cảm thấy hạnh phúc vì mình có được nguồn lương thực, thực phẩm dồi dào và sạch, thế nhưng chúng ta luôn canh cánh nỗi lo thực phẩm bẩn. Đến mức, đại biểu Quốc hội Đặng Thị Bảo Trinh (đoàn Quảng Nam cũ) phải chua xót thốt lên rằng: “Thực phẩm bẩn bủa vây người tiêu dùng”.
Thông thường, hành vi con người bị tác động bởi các yếu tố quan trọng như niềm tin, lợi ích, cơ hội và pháp luật. Trong đó, niềm tin dẫn dắt hành vi của con người. Nếu con người tin rằng sản xuất, kinh doanh thực phẩm bẩn chỉ gây tác hại cho người khác vì “cả họ nhà em có ăn rau do nhà em trồng đâu” thì lẽ dĩ nhiên là thực phẩm bẩn còn tràn ngập thị trường.
Những hình ảnh về thực phẩm bẩn và đường đi của chúng được hé lộ trong Loạt báo điều tra của báo Pháp Luật TP.HCM. Ảnh: Nhóm PV
Vấn đề lợi ích cũng tác động đến hành vi của con người. Thịt heo nhiễm bệnh (được mua với giá 25.000 đồng/kg) khi “hóa thân” thành thịt heo sạch và có trong suất ăn công nghiệp, suất ăn học đường (có giá 125.000 đồng/kg) thì siêu lợi nhuận 500% này sẽ khiến con người trở nên bất chấp.
Cuối cùng, pháp luật nếu không nghiêm minh, không đủ sức răn đe, trừng trị thì không thể giáo hóa con người. Do đó, để đoạn tuyệt với sản xuất, kinh doanh thực phẩm bẩn thì cần có những giải pháp hiệu quả tác động vào các yếu tố này.
Đối với chủ thể sản xuất, kinh doanh thực phẩm: Cần phổ biến, giáo dục về sự trung thực và đạo đức kinh doanh, từ đó làm cho họ ý thức được rằng việc sản xuất, kinh doanh thực phẩm bẩn không chỉ là vi phạm pháp luật mà còn là hành vi hủy hoại sức khỏe đồng loại, giống nòi. Khi anh ta “tuồn” thịt heo nhiễm bệnh cho một bếp ăn công nghiệp thì ở một góc khuất nào đó, người khác cũng lẳng lặng “đưa” rau củ bẩn vào bếp ăn học đường - nơi mà con em của anh ta đang ăn.
Đối với cơ quan hành chính: Tăng cường công tác quản lý nhà nước với các hoạt động thanh tra, kiểm tra các chợ đầu mối, cơ sở giết mổ, xưởng chế biến và các chuỗi cung ứng. Khi phát hiện thì tiến hành xử phạt nghiêm minh. Nếu thỏa mãn các dấu hiệu của tội phạm thì chuyển hồ sơ cho các cơ quan tiến hành tố tụng để truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật: Hiện nay, các quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm trong Nghị định 115/2018 đã có phần lỗi thời và không đủ sức răn đe. Trong khi đó, vi phạm quy định về an toàn thực phẩm chỉ được điều chỉnh tại Điều 317 BLHS với cấu thành khá phức tạp, khó chứng minh. Do đó, tăng mức tiền xử phạt đồng thời triệt để áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả “buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp” là những ưu tiên hàng đầu khi sửa đổi Nghị định 115/2018. Đồng thời, hình sự hóa vi phạm quy định về an toàn thực phẩm theo hướng hạ thấp định lượng tối thiểu (chẳng hạn xuống mức 10 triệu đồng) đối với các hành vi sử dụng chất cực độc, chất cấm hoặc sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh để chế biến, cung cấp, bán thực phẩm.
Muốn chấm dứt tình trạng sản xuất, kinh doanh thực phẩm bẩn thì phải có các công cụ hữu hiệu để chủ thể sản xuất, kinh doanh thực phẩm không muốn làm (vì niềm tin, vì đạo đức), không dám làm (vì chế tài nghiêm khắc) và không thể làm (vì hệ thống giám sát, quản lý chặt chẽ). Và một khi đã phát hiện sai phạm thì phải trị thật nghiêm, phạt tiền “mút khung”, phạt tù thật cao để người vi phạm tởn tới già, để người xung quanh không dám làm bậy. Có như thế mới ngăn được tình trạng “dân ta hại dân mình”.
PGS-TS CAO VŨ MINH, Trường ĐH Kinh tế - Luật, ĐH Quốc gia TP.HCM