Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương: Lan tỏa giá trị đoàn kết và bản sắc Việt trong kỷ nguyên số

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương: Lan tỏa giá trị đoàn kết và bản sắc Việt trong kỷ nguyên số
2 giờ trướcBài gốc
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương thể hiện tinh thần đại đoàn kết dân tộc. Ảnh BTC
Đại đoàn kết – sức mạnh bền sâu từ di sản và tâm thức dân tộc
Theo bà Nguyễn Thị Vân Anh, đại diện Ban Quản lý Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Đền Hùng (tỉnh Phú Thọ), năm 2026 đánh dấu một bước chuyển mới khi lần đầu tiên sau khi sáp nhập ba tỉnh Hòa Bình, Vĩnh Phúc và Phú Thọ, chuỗi hoạt động nhân dịp Giỗ Tổ Hùng Vương được tổ chức với quy mô lớn, đa dạng. Không chỉ dừng lại ở nghi lễ dâng hương truyền thống, hàng loạt hoạt động văn hóa dân gian đặc sắc đã được tổ chức, tạo sức hút mạnh mẽ đối với du khách trong và ngoài nước.
Lượng người hành hương về đất Tổ trong dịp này tăng khoảng 30% so với năm trước, với hàng triệu lượt khách tham dự. Tuy nhiên, theo bà Vân Anh, điều quan trọng không nằm ở con số mà ở ý nghĩa sâu xa: “Không chỉ riêng ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch, mà trong suốt cả năm, dòng người vẫn đều đặn hành hương về đất Tổ. Đó không chỉ là hành trình tâm linh mà còn là biểu hiện sinh động của đạo lý ‘uống nước nhớ nguồn’”.
Không gian Khu di tích Lịch sử Đền Hùng ngày nay là sự kết hợp hài hòa giữa cảnh quan thiên nhiên, giá trị lịch sử và bản sắc văn hóa địa phương. Đặc biệt, những sản phẩm du lịch mới như tour đêm “Đền Hùng linh thiêng” đã mang đến trải nghiệm khác biệt, góp phần làm sống động di sản trong đời sống hiện đại. Ánh sáng nghệ thuật, các chương trình trình diễn văn hóa cùng không gian linh thiêng về đêm đã tạo nên những cảm xúc sâu lắng, giúp du khách tiếp cận di sản theo cách gần gũi hơn.
Ông Đào Ngọc Thắng (huyện Lâm Thao, Phú Thọ) chia sẻ rằng trải nghiệm tour đêm mang lại cảm nhận rất riêng: không khí vừa đông đúc, vừa trang nghiêm, giúp mỗi người thực hành tín ngưỡng một cách trọn vẹn hơn. Những hoạt động như tặng đèn lồng, tham quan không gian lễ hội về đêm không chỉ làm phong phú trải nghiệm mà còn góp phần khơi dậy niềm tự hào về cội nguồn dân tộc.
PGS.TS Phạm Quang Long, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội (trái) chia sẻ về tinh thần đại đoàn kết dân tộc trong tín ngưỡng Hùng Vương. Ảnh Thanh Hải
Theo PGS.TS Phạm Quang Long, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, tinh thần đại đoàn kết dân tộc không phải là khái niệm trừu tượng mà được hình thành từ chính thực tiễn lịch sử và đời sống của người Việt. Trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, nhu cầu gắn kết cộng đồng để vượt qua thiên tai, địch họa đã hun đúc nên ý thức đoàn kết, trở thành giá trị cốt lõi của dân tộc.
Ông cho rằng, những giá trị này không chỉ tồn tại ở bình diện lý thuyết mà được thể hiện sinh động trong đời sống hằng ngày, từ quan hệ gia đình đến cộng đồng. Các câu tục ngữ như “Anh em như thể tay chân”, “Chị ngã em nâng” hay “Một giọt máu đào hơn ao nước lã” không chỉ là lời răn dạy mà còn phản ánh một triết lý sống: coi trọng sự gắn bó, sẻ chia và trách nhiệm chung.
Từ nền tảng gia đình, tinh thần đoàn kết được mở rộng ra phạm vi quốc gia, trở thành sức mạnh giúp dân tộc Việt Nam vượt qua nhiều thử thách trong lịch sử. Đặc biệt, các huyền tích như Con Rồng cháu Tiên hay việc tưởng nhớ các Vua Hùng đã tạo nên một “mẫu số chung” về cội nguồn, giúp các cộng đồng khác nhau cùng nhận thức về một bản sắc chung.
Ở góc nhìn hiện đại, ông Phạm Quang Long nhấn mạnh rằng tinh thần đại đoàn kết đã trở thành một dạng “sức mạnh mềm” của dân tộc. Đây không chỉ là yếu tố giúp tăng cường nội lực mà còn tạo nên hình ảnh một Việt Nam thân thiện, hòa bình trong mắt bạn bè quốc tế. Những biểu hiện giản dị trong đời sống như sự hiếu khách, tinh thần tương trợ chính là minh chứng sống động cho giá trị này.
Tiến sĩ Phạm Cao Quý – Trưởng phòng Quản lý Di sản Văn hóa phi vật thể (Cục Di sản Văn hóa) – bổ sung, chính tinh thần đoàn kết là một trong những yếu tố đặc biệt giúp tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào năm 2012. Không giống nhiều di sản chỉ tồn tại trong phạm vi địa phương, tín ngưỡng này có sự tham gia của toàn bộ cộng đồng người Việt, từ trong nước đến kiều bào ở nước ngoài.
Theo ông, giá trị của di sản không chỉ dừng lại ở phạm vi quốc gia mà còn mang ý nghĩa toàn cầu. Trong bối cảnh thế giới đối mặt với nhiều thách thức như dịch bệnh, xung đột hay biến đổi khí hậu, tinh thần đoàn kết – cùng tồn tại, cùng hỗ trợ – trở thành thông điệp mang tính nhân văn sâu sắc mà Việt Nam có thể lan tỏa ra thế giới.
TS. Phạm Cao Quý, Trưởng phòng Quản lý Di sản văn hóa phi vật thể, Cục Di sản Văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch). Ảnh: Thanh Hải
Để di sản “sống” trong đời sống đương đại
Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, yêu cầu đặt ra không chỉ là bảo tồn mà còn phải phát huy để di sản thực sự “sống” trong đời sống hiện đại. Theo các chuyên gia, điều này đòi hỏi một cách tiếp cận mới, linh hoạt và có sự tham gia của toàn xã hội.
TS Phạm Cao Quý cho biết, Luật Di sản văn hóa năm 2024 cùng các chính sách liên quan đã thể hiện sự chuyển dịch từ mô hình quản lý truyền thống sang quản trị di sản theo hướng “cân bằng động”. Theo đó, di sản không phải là thực thể tĩnh mà luôn vận động, biến đổi theo thời gian. Việc bảo tồn vì thế phải gắn liền với thực tiễn đời sống, tránh áp đặt những khuôn mẫu cứng nhắc.
Một trong những giải pháp quan trọng là đưa di sản vào đời sống hằng ngày. Với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, điều này không hề xa vời bởi bản chất của di sản chính là sự mở rộng ở cấp độ quốc gia của truyền thống thờ cúng tổ tiên trong mỗi gia đình Việt. Dù không phải ai cũng có điều kiện tham gia lễ hội Đền Hùng, nhưng tinh thần “Uống nước nhớ nguồn” vẫn có thể được thực hành qua những hành động giản dị trong đời sống thường nhật.
Bên cạnh đó, chuyển đổi số đang mở ra những cơ hội mới để lan tỏa giá trị di sản. Tuy nhiên, theo TS Phạm Quang Long, điều này cũng đặt ra yêu cầu về định hướng và quản lý. Ông nhấn mạnh: văn hóa là sáng tạo, nhưng sáng tạo cần dựa trên nền tảng hiểu biết và có sự dẫn dắt để tránh những biểu hiện lệch chuẩn.
“Không gian mạng rất phong phú, nhưng suy cho cùng vẫn là con người sử dụng. Việc khai thác và phát huy giá trị văn hóa phải hướng đến mục tiêu phục vụ con người, góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp hơn”, ông Phạm Quang Long bày tỏ.
Thực tiễn tại nhiều địa phương cho thấy, khi kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và khai thác, di sản có thể trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế – xã hội. Các mô hình du lịch văn hóa, sản phẩm trải nghiệm như tour đêm tại Đền Hùng không chỉ tạo giá trị kinh tế mà còn góp phần nâng cao nhận thức, nuôi dưỡng tình yêu di sản trong cộng đồng.
Ở tầm rộng hơn, việc phát huy giá trị tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương còn gắn liền với chiến lược xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Đây không chỉ là nhiệm vụ của ngành văn hóa mà cần sự chung tay của toàn xã hội, từ cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu đến mỗi người dân.
Như các chuyên gia đã khẳng định, di sản chỉ thực sự bền vững khi mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng và được cộng đồng chủ động gìn giữ, phát huy. Khi mỗi người Việt, dù ở trong hay ngoài nước, đều ý thức về cội nguồn chung và cùng chung tay lan tỏa những giá trị tốt đẹp, thì tinh thần đại đoàn kết sẽ tiếp tục được củng cố, trở thành nền tảng vững chắc cho sự phát triển của đất nước.
Trong hành trình đó, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương không chỉ là ký ức của quá khứ mà đang hiện diện sống động trong hiện tại, đồng hành cùng dân tộc trên con đường hội nhập và phát triển. Đây chính là minh chứng rõ nét cho sức sống bền bỉ của văn hóa Việt Nam – một nền văn hóa biết kế thừa, thích ứng và không ngừng lan tỏa trong thời đại mới.
Tuyết Minh
Nguồn Hà Nội Mới : https://hanoimoi.vn/tin-nguong-tho-cung-hung-vuong-lan-toa-gia-tri-doan-ket-va-ban-sac-viet-trong-ky-nguyen-so-747206.html