Tín ngưỡng thờ Mẫu - lưu giữ các giá trị văn hóa và lịch sử

Tín ngưỡng thờ Mẫu - lưu giữ các giá trị văn hóa và lịch sử
2 giờ trướcBài gốc
Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt với nghi lễ hầu đồng là hình thức diễn xướng tâm linh thường diễn ra ở các điện, đền, phủ.
Từ tín ngưỡng thờ Mẫu
Trong đời sống tâm linh của người Việt, tín ngưỡng thờ Mẫu là nét văn hóa tâm linh bản địa đặc sắc, tôn vinh hình tượng người mẹ (mẫu) gắn với tự nhiên (trời, đất, nước, rừng) và các nữ anh hùng dân tộc. Người Việt xưa thiêng hóa các vùng không gian trong thiên nhiên, coi mỗi vùng có một vị mẫu cai quản. Nếu miền Trời có Mẫu Thiên, miền Nước có Mẫu Thoải thì miền Rừng có Mẫu Thượng Ngàn. Về sau, tâm thức dân gian lại sáng tạo một vị mẫu trông coi cõi Người: Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Lâm Chí Bền, tại điện thần của các nơi thờ các Thánh Mẫu, chỉ có ba vị: Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải và một vị ngồi giữa mà dân gian cho rằng đó là Thánh Mẫu Liễu Hạnh, được coi đồng nhất với Mẫu Thiên, bởi Thánh Mẫu là con trời giáng trần.
Thêm một điều đặc biệt là trong khi các tôn giáo khác đều có kinh, sách thì tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt lại tồn tại dưới những “bản văn” hát được lưu truyền trong dân gian. Đó cũng chính là một trong những lý do mà tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ trở thành di sản văn hóa. Lý giải điều này GS Ngô Đức Thịnh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Việt Nam, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam cho biết: “Có lẽ hiếm thấy một hình thức tôn giáo tín ngưỡng dân gian nào như đạo Mẫu, trong đó tiêu biểu là nghi lễ lên đồng. Ở đó thể hiện khá tiêu biểu quá trình nảy sinh và tích hợp các hiện tượng và giá trị văn hóa mang sắc thái dân tộc độc đáo, như nghệ thuật ngôn từ, nghệ thuật diễn xướng và tạo hình dân gian, các hình thức sinh hoạt cộng đồng”.
Là người dành trọn cuộc đời cho những nghiên cứu về văn hóa dân gian của người Việt nói chung và tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng, theo GS Ngô Đức Thịnh, “lên đồng” được xem là nghi lễ tiêu biểu và đặc trưng nhất của đạo mẫu. Nó được xem là hình thức diễn xướng tổng hợp với nhiều yếu tố âm nhạc, hát, múa, động tác... và là “loại hình sân khấu tâm linh” bởi “môi trường, không gian, tình huống và diễn xướng mang đầy đủ những đặc trưng của sân khấu, chỉ khác sân khấu đời thường ở chỗ nó diễn ra trước điện thờ thần linh, bao trùm lên một không khí thiêng liêng”.
Trong không gian thiêng của di tích - đền thờ, bên cạnh tiếng đàn hát réo rắt của cung văn là hình ảnh những “thanh đồng” uyển chuyển “lạc vào chốn thiêng” theo từng giá hầu. Xung quanh là tiếng người vỗ tay, hưởng ứng... đằng sau bóng dáng của thanh đồng là Quan hoàng oai phong, cô Ba thoải chèo thuyền uyển chuyển, Mẫu thượng ngàn, cô Chín Giếng... hiển linh.
Và cũng bởi quan niệm “Thánh rất nghiêm: Phật tha Thánh chấp” nên phải chăng, để tìm kiếm cho mình những “điểm tựa” tinh thần trong những khó khăn, trắc trở nên con người ta vẫn thường không quản vất vả để thỏa mãn nhu cầu tâm linh. Người giàu, người nghèo, người có, người khó... mỗi người một kiểu, nhưng sự thành tâm nơi đền Mẫu - cửa Thánh vẫn luôn là điều mà con người khi thực hành tín ngưỡng thờ mẫu nói riêng, các tôn giáo nói chung phải nằm lòng. Và cũng vì thế mà tính thiêng của các vị thánh mẫu càng hấp dẫn.
Nếu phủ Giầy (huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định cũ) là nơi phát tích của Mẫu Liễu Hạnh thì đền Sòng, phường Quang Trung, tỉnh Thanh Hóa) là nơi Liễu Hạnh giáng trần và quy y Phật. Từ vùng non cao cho tới đồng bằng ven biển, nơi nào của xứ Thanh cũng có các công trình, di tích thờ Mẫu, tiêu biểu là Phủ Na (xã Xuân Du), đền Cô Bơ (xã Tống Sơn), cụm di tích Hàn Sơn - Phong Mục (xã Triệu Lộc), đền Sòng (phường Quang Trung), đền Phố Cát (xã Vân Du)... xuân thu nhị kỳ thu hút đông đảo Nhân dân và du khách tới chiêm bái.
Đến truyền thuyết thánh mẫu ngầm giúp lê Lợi
Trong rất nhiều truyền thuyết liên quan đến thánh mẫu, ở Thanh Hóa, trong tâm thức dân gian, thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ngoài tài năng, sức thu hút của chủ tướng Lê Lợi, còn bởi từ người dân đến các vị thánh thần đều đặt niềm tin, hiển linh phù trợ cho ông.
Trong đó có chuyện Mẫu Thượng ngàn ngầm giúp Lê Lợi. Rằng có một lần vào hồi khởi nghĩa Lam Sơn, Bình định vương Lê Lợi sai thủ hạ về đóng đồn ở sách Phản Ấm. Công chúa Thượng ngàn đã tới báo mộng khuyên là phải rút ngay vì ở đó địa hình bất lợi. Chưa kịp quyết định, giặc Minh đã biết, chúng đón đường và đánh úp quân ta. Nghĩa quân không chống cự nổi tan tác mỗi người một nơi, Lê Lợi và Nguyễn Trãi phải lần mò trong đêm tối để thoát nanh vuốt giặc. Công chúa Thượng Ngàn đã hóa phép thành một bó đuốc soi đường, dẫn cho nghĩa quân Lê Lợi vào được đến đất Mường Yên, không bị rơi vào tay giặc.
Ở Chí Linh sơn, nghĩa quân vừa sản xuất, vừa tập luyện và tập hợp, phát triển thêm lực lượng. Thật gian khổ, lắm phen không còn lương thực, phải lấy củ nâu củ mài thay cơm, nhưng nhờ sự che chở của công chúa Thượng Ngàn, đội quân của Lê Lợi vẫn ngày một thêm lớn mạnh. Quân Minh nhiều lần đến bao vây cũng đành phải chịu rút về. Từ Chí Linh, quân Lê Lợi tiến vào giải phóng Nghệ An, Thuận Hóa. Sau đó, với những trận thắng oanh liệt ở Tốt Động, Chúc Động, Chi Lăng và cuối cùng, bao vây quân Minh ở Đông Quan để kết thúc cuộc chiến, lập lại hòa bình cho nước Việt.
Cũng bởi, vì lòng kính ngưỡng với Lê Lợi mà trong tâm thức dân gian, hình tượng Lê Lợi được khắc họa thông qua sự kết hợp hài hòa giữa hiện thực và lý tưởng, giữa cái cao thượng và cái bình thường.
Cô Bơ Bông hay Cô Ba Thoải Cung- vị thánh cô quan trọng trong tín ngưỡng thờ Mẫu, người có khả năng thông linh, đi mây về gió và sử dụng phép thần để chữa bệnh, mang lại bình an, may mắn cho người dân. Vì thế, dân địa phương luôn tôn kính cô vì sự linh thiêng và những điều kỳ diệu mà cô mang lại.
Truyền thuyết kể rằng, cô Bơ Thoải là con gái của vua Thủy Tề và được phong làm Thoải Cung công chúa. Khi giặc Minh xâm lược, cô theo mẹ lánh về vùng Hà Trung cũ (nay là xã Hà Trung và Tống Sơn), ngay tại ngã ba sông Thác Hàn (sông Lèn). Tại đây, cô âm thầm giúp Lê Lợi và nghĩa quân kháng chiến bằng cách che giấu quân trang và chuyển lương thực, góp phần vào thắng lợi của cuộc khởi nghĩa.
Sau khi chiến thắng, vua Lê muốn tôn vinh công lao của cô nhưng dân gian kể rằng cô đã trở về thủy cung. Dù vậy, cô vẫn hiển linh, đặc biệt ở ngã ba sông, nơi người dân tin rằng cô chèo thuyền, giúp thuyền bè qua lại thuận buồm xuôi gió.
“Lê Triều Thần Phả Ngoại Biên” được lưu giữ tại Thái Miếu họ Lê cũng có ghi chép về thần tích cô Bơ Bông đồng thời cho biết, để ghi nhớ công lao, Lê Lợi đã phong cô là Thượng đẳng thần và cho xây dựng đền để Nhân dân hương khói tưởng nhớ.
Cùng nghệ nhân dân gian, thanh đồng cung văn Nguyễn Văn Chung, từ sân đền Cô Bơ (xã Tống Sơn), chúng tôi phóng tầm mắt ra xa, cảm nhận được vẻ đẹp nên thơ của bức tranh sơn thủy hữu tình hiếm nơi nào có được. Dòng nước chảy hiền hòa quanh năm, soi bóng những con thuyền nhẹ nhàng lướt trôi, cảm giác bình yên đến lạ thường. Trong không gian khoáng đạt, dưới bóng dáng của thánh mẫu... người hành hương như được gột rửa mọi bụi trần, tìm thấy sự an yên trong tâm hồn. Tiếng trống, tiếng phách, nhạc, lời ca và những điệu nhảy, múa đặc trưng như thôi thúc, mời gọi, thúc giục, để chân ta bước, lòng ta chộn rộn hoan ca... một cảm giác giữa thực - ảo thật khó gọi tên.
Bài và ảnh: Chi Anh
Bài viết sử dụng tư liệu trong sách Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn trong tâm thức dân gian (NXB Thanh Hóa, 2016); Tuyển tập Truyền thuyết Thanh Hóa (NXB Thanh Hóa, 2018)...
Nguồn Thanh Hóa : http://baothanhhoa.vn/tin-nguong-tho-mau-nbsp-luu-giu-cac-gia-tri-van-hoa-va-lich-su-281637.htm