Tuy nhiên, lạm dụng lễ nghi hay rơi vào “giới cấm thủ” thì buổi lễ mất đi sự long trọng và làm cho lòng người ngao ngán. Tinh gọn và đại chúng hóa trong lễ nghi, giảm thiểu tính thần thánh là điều cần thiết trong nhiều buổi lễ.
Là người đệ tử Phật có học lịch sử Phật giáo thì ai cũng biết rằng thuở ban sơ lễ nghi Phật giáo đơn giản nhưng trang nghiêm và linh thiêng mang tính cộng đồng Tăng lữ. Sau đó, trong quá trình du nhập vào các quốc gia, khu vực có nền văn hóa đa dạng thì lễ nghi Phật giáo đã thay đổi, thêm vào nhiều hình thức được vay mượn từ văn hóa bản địa để Phật giáo dễ dàng thích nghi nơi xứ sở ấy. Thế rồi, những người từ xứ sở ấy mang chúng đến nơi khác và áp đặt người ở xứ sở mới làm theo. Dần dần, các hình thức lễ nghi ấy mặc nhiên tồn tại. Và, ít ai dám nghĩ về ý nghĩa thiết thực của các hình thức lễ nghi ấy và hiếm ai dám thay đổi nội dung và hình thức không phù hợp của lễ nghi bởi áp lực dư luận làm cho người ta e ngại cải cách.
Đọc lại kinh và luật, chúng ta nhận thấy lễ nghi biểu hiện qua cách sống, cách sinh hoạt của Tăng đoàn. Về cá nhân, lễ nghi thể hiện qua oai nghi của người xuất gia trong đi, đứng, nằm, ngồi được ghi lại trong các điều giới (pháp chúng học) như không được vừa đi vừa chạy, mặc y áo ngay ngắn cân bằng, ngồi nhìn trước ngó sau, ăn cơm chú ý, nói chuyện trao đổi nhỏ nhẹ, không giỡn cười lớn tiếng... Việc cúi đầu ôm chân hay đi vòng (nhiễu) thể hiện lòng tôn kính theo văn hóa Ấn Độ. Về tập thể, lễ nghi biểu hiện qua hình thức sinh hoạt với các quy định tạo nên trật tự và trang nghiêm Tăng đoàn, như các thành viên được phân theo thứ lớp lớn nhỏ căn cứ trên hạ lạp hay còn gọi tuổi đạo tính từ lúc thọ giới Cụ túc. Các sinh hoạt mang tính tập thể thường qua cách thức yết-ma gọi là đơn bạch (thông báo), bạch nhị (một lần hỏi và một lần biểu quyết) và bạch tứ (ba lần hỏi và một lần biểu quyết). Các quy định về sinh hoạt của Tăng, giải quyết vấn nạn, đào tạo người kế thừa, v.v. đều phải được thực hiện trong một phạm vi nhất định gọi là cương giới. Việc kết cương giới được thực hiện theo những lễ nghi quy tắc không có gì mang tính thần thánh. Đó là tổng quát về lễ nghi trong sinh hoạt của Tăng (cộng đồng các Tỳ-kheo) khi còn sống.
Vấn đề lễ nghi liên quan đến Tỳ-kheo viên tịch như hỏa thiêu nhục thân, cầu nguyện… không được ghi lại trong kinh hay luật, ngoại trừ phân chia vật dụng của vị Tỳ-kheo viên tịch. Do đó, một phần lễ nghi liên quan đến sinh hoạt của Tăng khi còn sống và tất cả lễ nghi liên quan đến Tăng khi viên tịch được chư tiền bối chế tác ra dựa trên nền văn hóa mà chư vị chịu ảnh hưởng hay vì mục đích thích nghi hành đạo.
Ngày nay, lễ nghi trong sinh hoạt của Tăng là một tổng hòa nhiều yếu tố. Về sinh hoạt của Tăng, các nội dung quan trọng như Bố-tát, truyền giới… tuân thủ theo giới luật nhưng có thêm vài phần nghi thức mới. Các sinh hoạt khác như tụng kinh, ăn cơm (quá đường)… thì phần nhiều theo lễ nghi được soạn về sau gọi là nghi thức. Đặc biệt, vấn đề liên quan đến sự viên tịch của một Tỳ-kheo, lễ nghi để thực hiện hầu như được soạn về sau cho nên mỗi tông phái, vùng miền quy định khác nhau, ngoại trừ Nam truyền có sự thống nhất cao.
Lễ nghi cho một vị Tăng viên tịch được thực hiện theo nghi thức do chư vị tiền bối soạn ra. Đầu tiên phải lập Ban Tổ chức để có nhân sự phụng sự và ban chức sự lo thực hiện nghi lễ cúng. Trước khi lễ chính thức thì phải có lễ cung an chức sự, nghĩa là có một vị gọi là công văn quỳ thưa thỉnh đọc hết các tên trong Ban Chức sự, Ban Tổ chức và chương trình lễ tang với cung cách nghi lễ vùng miền cộng thêm lễ lạy. Thật ra, đây là lễ nghi cho trang nghiêm vì trước đó môn đồ đã phải đi thỉnh trước rồi và người nhận việc cũng đã biết phận sự rồi. Hơn nữa, nội dung đã được in và thiết trí trong khuôn viên nơi tổ chức lễ tang. Tiếp theo, Ban Kinh sư thực hiện nghi thức lễ bạch Phật rồi đến nghi thức đưa nhục thân vị Tăng nhập kim quan. Sau lễ nhập quan đến lễ thiết linh sàng và thành phục (bị ảnh hưởng bởi Nho giáo). Thời gian thực hiện nhanh hay chậm phụ thuộc vào Ban Kinh sư tán tụng nhiều hay ít.
Mỗi ngày, Ban Kinh sư cúng Phật và tiến/cúng Giác linh một lần vào buổi trưa theo truyền thống ngày ăn một bữa. Trước ngày di quan, thường có nghi thức lễ Phật, lễ Tổ và đêm tưởng niệm gồm tụng luật hay tụng kinh, và chúng đệ tử bày tỏ lòng tri ân đối với ân sư. Đến ngày di quan, tùy theo lễ tang có tổ chức hành chánh và nghi lễ (có nơi không có phần hành chánh). Phần hành chánh gồm có giới thiệu thành phần tham dự lễ, cung tuyên tiểu sử, đọc bài điếu văn tưởng niệm, bài cảm niệm của môn đồ và bài cảm tạ. Sau đó Ban Kinh sư thực hiện nghi thức di quan. Trong nghi thức di quan, có nơi cúng Giác linh, đọc sớ bất kể thời gian sáng hay chiều. Sau đó, một vị Hòa thượng thực hiện phất trần (bị ảnh hưởng bởi Lão giáo) nhắc lại nội dung vô thường, vô ngã trợ giúp giác linh giác ngộ nếu như chưa giác ngộ để tiếp tục hạnh nguyện của mình. Vấn đề là một số nơi thực hiện phần hành chánh và lễ nghi kéo dài nhàm chán. Nếu lễ nghi được thực hiện mang tính đại chúng, tức là mọi người đều có thể tham gia vào như tụng bài kinh phổ thông, niệm danh hiệu Phật… thì sẽ tạo năng lượng cầu nguyện an lành nhiều hơn và trang nghiêm hơn.
Khi kim quan được đưa đến tháp hay nơi hỏa táng thì có thêm nghi thức nhập tháp. Sau khi nhập tháp hay hỏa táng xong, hình ảnh và long vị được đưa về lại chùa để an trí gọi là thượng chân dung thì có một nghi thức cúng nữa. Thiết nghĩ, đại chúng cùng niệm danh hiệu Phật đưa tiễn kim quan nhập tháp hay hỏa táng thì sẽ ý nghĩa hơn. Khi về thượng chân dung, môn đồ đảnh lễ Giác linh là trang nghiêm rồi.
Đến mỗi tuần thất, Ban Kinh sư hay chư Tăng về dự lễ thực hiện nghi thức cúng Phật và tiến Giác linh. Đến tuần chung thất, lễ nghi được cử hành lớn để tạ ơn và cầu nguyện. Hình thức tổ chức cũng có Ban Chức sự được thỉnh mời trước để thực hành nghi thức cúng và chư Tăng được thỉnh mời dự lễ trai tăng cúng dường cầu nguyện. Vị công văn cũng thực hiện lễ cung an chức sự với cách thức như đã nêu trên. Thời xưa, có lẽ là khi chư Tăng vân tập chưa biết phận sự gì nên phải có việc cung thỉnh chức sự để mỗi vị biết phận sự thực hiện. Ngày nay, trước khi đến dự lễ thì mỗi vị đều có thiệp thỉnh và biết phận sự làm gì rồi nên lễ nghi cung an là hình thức để biểu hiện sự long trọng hoành tráng của một buổi lễ. Sau lễ cung an chức sự, Ban Kinh sư thực hiện nghi thức cúng Phật và tiến Giác linh còn chư Tăng đến sớm thì chờ đến giờ lễ trai tăng. Vào thời trai tăng, sau lời tác bạch cúng dường và lời đáp từ của vị cao tăng đại diện (vị chứng trai hay chứng minh) là nghi thức quá đường. Nhiều nơi lễ nghi được thực hiện kéo dài dẫn đến sự nhạt nhẽo.
Nhìn lại buổi lễ trai đàn, ai cũng thấy có sự lập lại trong nghi cúng dường Phật. Đầu tiên là cúng Phật tại chánh điện nhưng chỉ do Ban Kinh sư cúng. Tiếp theo, tiến Giác linh cũng do Ban Kinh sư cúng. Hai phần này chủ yếu là lễ nghi tán tụng theo cách thức biểu hiện âm nhạc vùng miền. Phần chính là lễ trai tăng (vì chính trai tăng cúng dường hiện tiền tăng mới có phước như kinh Vu lan và nhiều kinh đề cập) được thực hiện sau. Trong lễ trai tăng, chư Tăng cũng tiếp tục tán tụng cúng dường chư Phật lần thứ hai. Như vậy, trong một lễ có hai lần cúng dường chư Phật. Đức Phật dạy Tăng là ruộng phước nên cúng dường Tăng là cốt yếu tạo phước. Nơi trai đường, có tượng Phật chứng minh, có đọc lời văn cúng dường thập phương Phật, Bồ-tát và Thánh tăng trước phần dâng cúng dường thức ăn và tài vật cho hiện tiền Tăng. Vậy thì có nhất thiết phải cúng Phật hai lần không?
Tinh gọn và đại chúng hóa lễ nghi là điều cần nên làm. Nếu buổi lễ chỉ có Ban Kinh sư thì nghi thức tán tụng dài ngắn do Ban Kinh sư quyết định theo yêu cầu của môn đồ hay sự chủ. Nếu buổi lễ có nhiều Tăng Ni được thỉnh mời thì cần nên đại chúng hóa lễ nghi. Theo đó, lễ nghi cung an chức sự không nên kể lễ lê thê mà đi vào trọng tâm thưa thỉnh gọn nhưng đầy đủ. Tiếp theo, cung thỉnh toàn thể đại chúng quang lâm trai đường để ổn định trang nghiêm. Sau đó, môn đồ cung thỉnh chư tôn Hòa thượng chứng minh quang lâm nơi bàn Giác linh (đã chuẩn bị mâm cơm tươm tất) để thắp hương tưởng niệm, cầu nguyện và môn đồ lễ lạy mời ân sư thọ trai. Cầu nguyện xong, cung thỉnh chư tôn Hòa thượng chứng minh quang lâm trai đường để thực hiện nghi thức cúng dường trai tăng. Đại diện môn đồ tác bạch cúng dường và vị chứng minh đáp từ bằng những lời tán dương và chấp nhận lễ phẩm. Sau đó, toàn thể đại chúng có thể cử tán một bài theo văn hóa vùng miền, trì tụng Đại bi, Bát-nhã, bài sám hay trì niệm danh hiệu Đức Phật tạo nên không khí linh thiêng cho buổi lễ. Kế tiếp là đọc lời văn cúng dường cho đến thỉnh mời thọ trai. Sau khi thọ trai xong là nghi thức kết trai và cầu nguyện hồi hướng.
Hàng năm, vào ngày tưởng niệm vị Tăng, Ni viên tịch (thường gọi là húy kỵ, húy nhật) lễ nghi cũng ít được đại chúng hóa. Sau lời thưa thỉnh, chư Tăng Ni vân tập Tổ đường lễ chư Tổ rồi quang lâm chánh điện cúng Phật. Sau đó, chư Tăng Ni về lại Tổ đường cúng Giác linh. Trong hai thời cúng trên, chỉ có một số Tăng Ni tham dự lễ cúng theo nghi thức vùng miền. Một số chùa chỉ thực hiện nghi thức cúng Phật, sau đó dâng hương tưởng niệm Giác linh. Một số chùa thì chỉ thực hiện nghi thức cúng Giác linh. Vào ngày tưởng niệm, nếu thực hiện đại chúng hóa lễ nghi thì tất cả chư Tăng Ni từ chư tôn đức Trưởng lão đến các Sa-di nếu không có phận sự phục vụ thì đều nên vân tập tại chánh điện thực hiện nghi thức tụng kinh cúng Phật cầu nguyện. Một mặt bản thân mỗi vị có cơ hội hành trì theo thời khóa, mặt khác giáo dục các thế hệ tương lai tinh thần đoàn kết, tôn ti và bình đẳng tu tập. Khi xưa, hình ảnh Đức Thế Tôn cùng các đệ tử cùng đi khất thực, cùng thọ trai thật cao đẹp và có tính giáo dục tuyệt vời. Một số Tăng đoàn hiện nay cũng theo “thân giáo” của Đức Thế Tôn. Do vậy, đại chúng hóa lễ nghi là đang thực hành theo Đức Thế Tôn. Sau thời tụng kinh cúng Phật, đại chúng cùng vân tập thắp hương tưởng niệm Giác linh tại Tổ đường là đầy đủ ý nghĩa ngày tưởng niệm.
Thiết nghĩ, năng lực của đại chúng cùng cầu nguyện thì sẽ mầu nhiệm hơn là nhóm nhỏ riêng lẻ. Theo tập quán, chúng ta chưa quen vì cho rằng đơn giản quá, thiếu các nghi cúng. Nhưng xét về nội dung, ai cũng biết cốt lõi của buổi lễ là phần nào và thực hiện đại chúng hóa lễ nghi sẽ tăng thêm phần trang nghiêm phước báu. Hãy quán chiếu xem mục đích của buổi lễ là gì thì chúng ta sẽ dễ dàng chấp nhận tinh gọn và đại chúng hóa lễ nghi.
Thích Hạnh Chơn/Nguyệt san Giác Ngộ