Bản tấu của cụ Đặng Huy Trứ xin ban thưởng cho 2 xã An Hải và Phúc Trường. Ảnh: Tư liệu
Trong quá trình xử lý tư liệu của phường Mân Thái, chúng tôi phát hiện một số văn bản thời Tự Đức liên quan đến bức hoành phi này.
Nhường đất qua cơn bĩ cực
Vào năm 1858, thực dân Pháp tấn công cửa biển Đà Nẵng. Cùng lúc đó, các tàu chiến của chúng nã đại bác vào các làng chài ven biển để khủng bố dân chúng, khiến cư dân hoảng sợ, bỏ chạy tứ tán vào các xã nằm sâu trong nội địa, trong số người chạy loạn đó có người dân của làng Tân An vùng đầm Con Nghê Sơn Chà (giữa thời Tự Đức đổi thành xã Tân Thái, về sau nhập với xã Cổ Mân thành phường Mân Thái).
Đến năm 1861, sau khi quan Tổng đốc Nam Ngãi là Đào Tấn xuống sức phủ dụ, hầu hết cư dân các làng ven biển Quảng Nam đều theo nhau trở về quê cũ.
Làng Tân An vốn xuất phát từ vạn chài, người dân thuần túy làm nghề đánh cá mưu sinh, do đó khi họ trở về thì hầu như tất cả ngư cụ, ghe thuyền đều mất sạch. Người dân chỉ còn hai bàn tay trắng, không ruộng đất, không ngư cụ, không thể sinh kế, như trong bản tường trình lên quan (dịch): “Do địa phận của xã chúng tôi nằm ven biển, đều là cát trắng, không có chỗ trồng trọt. Vào các ngày tháng Bảy năm Tự Đức thứ 11 bị Tây Dương quấy nhiễu, đốt phá nhà cửa, nhân dân trong xã sợ chạy khắp nơi, tá túc các xã thôn khác. Đến năm thứ 13 việc lắng xuống, vâng đại nhân ở quân thứ là Đốc Bộ đường phủ dụ nên theo nhau trở về, nhưng sản nghiệp đều tiêu tan, không còn đường sinh kế”.
Nhận thấy các xã lân cận là An Hải, Phúc Trường, Cổ Mân có nhiều đất ruộng và đất bỏ hoang, người làng Tân An bèn đến xin các xã ấy nhường một ít đất để cấy cày nuôi miệng cho qua cơn bĩ cực: “Trông thấy các làng lân cận trong tổng là An Hải, Phúc Trường ruộng đất khá nhiều, liền đến 2 xã ấy xin một ít đất bỏ không. Nhờ có trồng trọt mà cuộc sống qua cơn nguy cấp”.
Lời xin vô cùng khẩn thiết, người dân các làng chung quanh như An Hải và Phúc Trường bèn họp bàn tìm cách giúp đỡ và đi đến quyết định giao cho dân Tân An một số ruộng đất “Tú tài Đỗ Văn Tư, Hương thân Lê Văn Thi, Lý trưởng Nguyễn Văn Vinh của xã An Hải; Lý trưởng Trương Văn Đạt của xã Phúc Trường nghĩ đến cái nghĩa xóm giềng, cùng nhau hội họp nhân dân 2 xã, thuận tình trích các xứ trong bạ của 2 xã ấy nhường cho”.
Nhờ có số ruộng đất đó, cuộc sống người dân Tân An dần đi vào ổn định. Về sau, họ còn mua thêm một ít ruộng nữa, rồi sắm sửa ngư cụ tiếp tục nghề nghiệp của tổ tiên. Chính nhờ sự giúp đỡ ban đầu ấy mà người dân làng Tân An vô cùng cảm kích, họ cùng với An Hải và Phúc Trường kết nghĩa, những khi các làng có việc đều đến tham dự và thăm hỏi lẫn nhau.
Bốn chữ vàng cho nghĩa tình làng biển
Đến năm Tự Đức thứ 18 (1865), Đặng Huy Trứ đang làm Bố chính sứ Quảng Nam, biết được chuyện, ông bèn dâng tấu xin triều đình biểu dương khen thưởng người dân các xã An Hải và Phúc Trường để khuyến khích tinh thần tương thân, tương ái, trong bản tấu ngày 15 tháng 5 năm Tự Đức thứ 18 của ông và Án sát sứ họ Lê viết (dịch): “Hồng Lô Tự khanh lãnh Quảng Nam Bố Chính sứ Đặng, Thự Án Sát sứ Lê kính cẩn tâu bày về việc dân nhường đất lẫn nhau nên định xin biểu dương khen thưởng. Vì vậy cung kính tâu bày cụ thể hầu đợi chỉ”.
Tuy lượng ruộng và đất không nhiều, chưa đủ mức để được xét thưởng, nhưng theo ông thì “Vả lại, việc nhường đất đai vốn xưa nay là nét đẹp, ba xã ấy đã “bớt nhiều thêm ít” không một mảy may nghĩ đến chuyện cương giới này nọ. Từ đó dân phong trông thấy chuyện tranh giành thì tránh xa, đó cũng là việc nên tưởng thưởng để khuyến khích”.
Xét hoàn cảnh khó khăn của cư dân ven biển miền Trung cùng lời tấu xin khẩn thiết của quan Bố chính Đặng Huy Trứ, bộ Hộ đã có văn bản tâu trình sự việc lên triều đình vào ngày 9 tháng 5 nhuận năm Tự Đức thứ 18, bản tường trình có đoạn “Lại xét về chỗ ruộng đất 2 xã kia đã nhường lại, tuy không bằng được số lượng như thôn Đồng An, nhưng nghĩ rằng ý tốt nên được nhân rộng, xét thưởng cho mỗi xã một biển ngạch Thiện Tục Khả Phong để động viên. Dám xin trình bày lên đợi chỉ chép ra để thực hiện”.
và được sự chuẩn thuận của vua Tự Đức rằng “Lời tâu thỏa đáng, cho chép ra để thi hành, Khâm thử!”.
Được vua chuẩn y, bộ Hộ truyền công văn và làm 2 biển ngạch Thiện Tục Khả Phong thưởng cho 2 xã An Hải và Phúc Trường. Đó chính là sự công nhận của triều đình cho một hành động đẹp trong cộng đồng nhằm xiển dương tinh thần tương thân tương trợ. Một trong số biển ngạch Thiện Tục Khả Phong hiện nay được treo trang trọng trong ngôi nhà thờ Tiền hiền làng An Hải.
Việc làm của người dân làng An Hải và Phúc Trường là một tấm gương sáng về tinh thần tương thân tương ái, tình nghĩa đồng bào giúp đỡ lẫn nhau trong cơn hoạn nạn. Trải qua gần 160 năm, bức hoành phi Thiện Tục Khả Phong vẫn được gìn giữ trang trọng như một chứng tích sống động của nghĩa tình làng xóm trên vùng đất ven biển Đà Nẵng.
Câu chuyện của An Hải, Phúc Trường và Tân An vẫn còn nguyên ý nghĩa đến hôm nay. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, tinh thần tương thân tương ái, nghĩa đồng bào và trách nhiệm với cộng đồng luôn là nền tảng tạo nên sức mạnh của một vùng đất. Có lẽ vì thế, bốn chữ Thiện Tục Khả Phong không đơn thuần là một phần thưởng của triều Nguyễn, mà còn là lời nhắc nhở các thế hệ mai sau về những giá trị nhân văn đã góp phần làm nên cốt cách con người Đà Nẵng từ thuở mở đất đến hôm nay.
LÊ MINH KHIÊM