Tình người 'neo đậu' nơi biên cương

Tình người 'neo đậu' nơi biên cương
3 giờ trướcBài gốc
Nhờ được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm, cư dân bản địa dang rộng vòng tay nhân ái nên cộng đồng dân tộc thiểu số (di cư từ Lào sang) đã có được nơi "neo đậu" bình yên, ấm đẫm nghĩa tình.
Trải qua bao thăng trầm, biến cố của thời cuộc và lịch sử, nay bà Trần Thị Hòe (76 tuổi, ở thôn Hà Trai, xã Sơn Kim 1) tóc đã bạc, mắt đã mờ. Gần 70 mùa măng rừng trôi qua, nhưng ký ức về những ngày xa xăm bà cùng bố mẹ, cộng đồng người dân tộc Lào, Mán, Thanh, Mường, Tày, Khơ Mú… lội suối, băng rừng, vượt đỉnh Trường Sơn để di cư từ Viêng Chăn (Lào) đi tìm vùng đất mới sinh cơ lập nghiệp vẫn còn vẹn nguyên, nó như những thước phim quay chậm luôn hiện về trong ký ức người già như bà.
Bà Trần Thị Hòe (ngoài cùng bên trái) kể cho con, cháu nghe lại những tháng ngày lưu lạc nơi rừng sâu, núi thẳm dọc biên giới và sự cưu mang, ân tình của người Việt trong cơn bĩ cực.
Bà Trần Thị Hòe nhớ lại: "Khoảng những năm 1955, tôi cùng bố mẹ và gần 40 hộ gia đình với nhiều thành phần dân tộc khác nhau đã rời cố hương để tránh đói nghèo, loạn lạc. Đôi chân của những người đi tìm miền đất hứa cho tương lai ngày ngày bước đi vô định, lầm lũi giữa rừng già, qua rất nhiều núi cao, vực sâu, phải đối mặt với bệnh tật, thú dữ và nhiều hiểm nguy khác luôn rình rập.
Ngày ấy, cứ đến mỗi vùng đất mới là chúng tôi sẽ trồng 1 bụi chuối, đến lúc nó ngả vàng, không còn phát triển (khoảng vài năm), cũng là lúc muông thú hết, đất đai bị cằn cỗi thì lại tiếp tục hành trình du canh, du cư. Cứ thế, cả cộng đồng trôi dạt, tạm bợ khắp miền biên viễn".
Bà Hòe trao đổi với phóng viên về đời sống ngày nay của những người Lào di cư.
“Sau nhiều lần di chuyển bất định, đến sau năm 1960 thì những người Lào di cư đến vùng đất Lách Lấp (nay là thôn Hà Trai). Thấy nơi này yên bình, trù phú, nhiều sản vật, cư dân bản địa thân thiện nên chúng tôi quyết định dừng chân lâu dài. Trong 20 - 30 năm đầu ở vùng đất mới, chúng tôi vẫn giữ thói quen dựa vào rừng để mưu sinh, chủ yếu săn bắn, đánh cá, khai thác gỗ và giữ lối sống khép kín, tự ti, mang họ người Lào. Nhưng nhờ được Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương quan tâm cấp đất, giao rừng, hỗ trợ sản xuất, cho mang họ Việt Nam (chủ yếu là họ Lê), chăm lo cả về vật chất lẫn tinh thần… nên càng ngày "rễ sâu, gốc bền" nơi vùng đất mới” - bà Hòe nhớ lại.
Những người Việt gốc Lào di cư cách đây gần 70 năm đã có thế hệ thứ 3, thứ 4 và đang ngày càng "rễ sâu, gốc bền" nơi quê hương mới.
Anh Lê Đình Thoái (con trai bà Hòe) chia sẻ: “Thế hệ người Lào đầu tiên sang đây hiện chỉ còn lại 6 người, nhưng cộng đồng thì đang phát triển nhanh chóng; riêng gia đình tôi đã bắt đầu sang thế hệ thứ 4 với 15 nhân khẩu. Giờ đây, đối với chúng tôi, cố hương là cội nguồn để nhớ về; còn hiện tại và tương lai đều nằm ở vùng đất này. Nơi đây, chúng tôi luôn được ưu tiên chăm lo về mọi mặt, mọi nhà đều có đất đai, nương rẫy để sản xuất lúa nên ai nấy đều yên tâm làm ăn”.
Cộng đồng dân tộc thiểu số chung tay, góp sức xây dựng NTM.
Cũng như gia đình bà Hòe, những người con đến từ đất nước Triệu Voi đang ngày càng hòa nhập và phát triển trong đại gia đình chung. Từ 40 nóc nhà đầu tiên nay đã có 120 hộ với 400 nhân khẩu, bám “chắc rễ” khắp miền biên cương phía Tây của tỉnh. Cách đây 10 năm, tỷ lệ hộ nghèo trong cộng đồng còn chiếm đến 30% nhưng nay chỉ còn 0,3%, thu nhập bình quân đầu người tiệm cận với mặt bằng chung của xã (khoảng 46 triệu đồng/người/năm), hàng chục hộ có cuộc sống khấm khá, hầu hết mọi nhà đều có nhà ở kiên cố và đồ dùng sinh hoạt hiện đại, khu dân cư đạt chuẩn kiểu mẫu, công cuộc xây dựng NTM chuyển biến tích cực, an sinh xã hội được chăm lo.
Mọi người, mọi nhà đều có ý thức xây dựng nhà sạch, vườn đẹp, xây dựng cuộc sống văn minh.
Chị Nguyễn Thị Thắm (dân tộc Tày, bác sĩ ở Bệnh viện Đa khoa khu vực Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo) chia sẻ: “Là thế hệ thứ 3 của người Lào di cư, chúng tôi luôn được ưu tiên chăm lo để phát triển thể chất, tri thức, công ăn việc làm. Giờ đây, con em đồng bào không còn bỏ học, có 4 người là bác sĩ, 3 người là giáo viên, 2 người là quân nhân, hàng trăm người có công ăn việc làm ổn định… Thế hệ trẻ chúng tôi tự tin phấn đấu, cống hiến để có nhiều đóng góp cho công cuộc phát triển chung và giúp đồng bào mình vươn lên”.
Chị em được giao nhiệm vụ chăm sóc cảnh quan xóm làng, đường sá.
Sau nhiều năm hòa nhập, người dân tộc thiểu số ở xã Sơn Kim 1 đã từng bước đoạn tuyệt dần với các hủ tục lạc hậu, bảo tồn được những nét văn hóa mang bản sắc và tiếp nhận nếp sống văn hóa, văn minh mới của người bản địa. Giờ đây, trong cộng đồng không còn thầy mo, không chữa bệnh bằng cách cúng đơm, người mất không để trong nhà lâu như trước (3 – 4 ngày), mọi người đều sắm sửa trang phục dân tộc để mặc vào các ngày lễ, tết.
Cùng với vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân, cộng đồng người dân tộc thiểu số cũng luôn giúp đỡ, bảo vệ, tương trợ lẫn nhau trong cuộc sống, nhất là trong việc hiếu, việc hỉ, chăm lo cho các đối tượng yếu thế. Ngoài ra, họ còn là cầu nối trong đối ngoại nhân dân, góp phần vun đắp tình đoàn kết Việt Lào qua những chuyến thăm thân, gặp gỡ, giao lưu với cư dân bên kia biên giới.
Đeo vòng gọi vía là lễ hội truyền thống được đồng bào dân tộc thiểu số ở xã Sơn Kim 1 tổ chức để nhớ về tổ tiên, nguồn cội và cầu mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, sức khỏe dồi dào....
Ông Nguyễn Văn Thân – Phó Trưởng ban Liên lạc dân tộc xã Sơn Kim 1 chia sẻ: “Hành trình đi tìm miền đất hứa của cha ông chúng tôi đã dừng lại nơi vùng biên đầy nghĩa tình và yên vui này. Nhớ lại những tháng ngày gian khổ nơi rừng sâu, núi thẳm với cuộc sống bộn bề khó khăn, thiếu thốn, chúng tôi lại càng biết ơn sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương và các cư dân bản địa tốt bụng. Giờ đây, vùng đất thiêng liêng này đã là quê hương nên chúng tôi sẽ tiếp tục cùng nhau lao động, cống hiến để dựng xây thôn quê đẹp giàu, chăm lo cuộc sống ngày càng ấm no, vun đắp tình đoàn kết bền chặt...".
Bộ mặt miền biên viễn ngày càng khởi sắc, đẹp giàu.
Ông Lương Sĩ Hiệp – Phó Chủ tịch UBND xã Sơn Kim 1 cho biết: “Nơi phên dậu này, đồng bào các dân tộc thiểu số luôn khẳng định được vai trò, trách nhiệm của mình qua bản tính cần cù, chịu khó, đôn hậu, trung thực, trách nhiệm, đoàn kết và một lòng theo Đảng. Ngoài việc động viên, đôn đốc, hỗ trợ bà con về mọi mặt, cấp ủy, chính quyền địa phương đã và đang triển khai thực hiện hiệu quả các chủ trương, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số; qua đó góp phần giúp bà con chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, phát triển sản xuất, đa dạng sinh kế, tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống...”.
Tiến Phúc - Thái Oanh
Nguồn Hà Tĩnh : https://baohatinh.vn/tinh-nguoi-neo-dau-noi-bien-cuong-post307844.html