TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn - Trường Đại học Fulbright Việt Nam
1. Đặt vấn đề
Năm 2025, có 7/34 địa phương đạt mức tăng trưởng hai con số, cho thấy dư địa tăng trưởng cao vẫn còn ở nhiều trung tâm kinh tế năng động. Đối với TP.HCM, GRDP năm 2025 tăng 7,53% nếu tính cả dầu khí, và 8,03% nếu loại trừ yếu tố dầu khí. Kết quả này cho thấy động năng tăng trưởng của nền kinh tế thành phố vẫn duy trì khá tích cực, song đồng thời cũng cho thấy khoảng cách đáng kể so với mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026 cũng như cho thập niên tới.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP.HCM lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2030, đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân 10 - 11%/năm nhằm tiếp tục củng cố vị thế đầu tàu của thành phố đối với cả nước, đồng thời có thể bắt kịp các đô thị của những nước trong khu vực. Với quy mô GRDP năm 2025 gần 3 triệu tỷ đồng (xấp xỉ 120 tỷ USD, gần bằng GDP Việt Nam năm 2010), với mục tiêu tốc độ tăng trưởng thực 10% trong năm 2026, nền kinh tế thành phố phải tạo thêm khoảng 300.000 tỷ đồng giá trị gia tăng (theo giá cố định) chỉ trong một năm. Đây là thách thức không hề nhỏ đối với một đô thị đã thoái công nghiệp hóa từ lâu, với các tài nguyên, đất đai, lao động… không còn dồi dào như mấy thập niên bắt đầu công nghiệp hóa. Tuy nhiên, với tỷ trọng chiếm khoảng 23,5% GDP cả nước, tăng trưởng của TP.HCM có ý nghĩa quyết định đối với triển vọng tăng trưởng chung. Nếu thành phố không đạt được tốc độ tăng trưởng cao, mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam trong giai đoạn tới sẽ rất khó thành hiện thực.
Cơ cấu kinh tế của TP.HCM hiện mang đặc trưng của một đô thị dịch vụ - công nghiệp phát triển, trong đó khu vực dịch vụ chiếm khoảng 52% GRDP, công nghiệp - xây dựng khoảng 35%, còn nông nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ. Khi nền kinh tế đã đạt mức độ đô thị hóa và tích tụ cao, dư địa tăng trưởng dựa vào mở rộng vốn đầu tư và thu hút lao động không còn nhiều. Vì vậy, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, thành phố buộc phải đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và tái cấu trúc các ngành theo hướng giá trị gia tăng cao hơn.
Bài viết này tập trung góp ý chính sách cho TP.HCM thông qua hạch toán tăng trưởng theo mô hình tăng trưởng nội sinh, từ đó xây dựng các kịch bản tăng trưởng và đề xuất một số giải pháp khả dĩ để TP.HCM có thể chạm đến mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026 và thập niên tới.
2. Từ lý thuyết tân cổ điển đến mô hình tăng trưởng nội sinh
Trong phân tích tăng trưởng kinh tế, mô hình tăng trưởng tân cổ điển của Robert Solow (1956) từ lâu đã trở thành khuôn khổ lý thuyết được sử dụng phổ biến để hạch toán các nguồn gốc của tăng trưởng và định hướng chính sách vĩ mô. Theo cách tiếp cận này, tăng trưởng sản lượng được hạch toán thành đóng góp của các yếu tố đầu vào (chủ yếu là trữ lượng vốn K và lao động L), cùng với phần còn lại được gọi là năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). Nhờ cấu trúc đơn giản và khả năng lượng hóa tương đối rõ ràng, mô hình Solow đã trở thành công cụ tiêu chuẩn trong các bài toán hạch toán tăng trưởng của nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế. Trong trường hợp của TP.HCM, mục tiêu TFP đóng góp 60% tăng trưởng được nêu trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ I cũng phản ánh cách tiếp cận truyền thống này.
Tuy nhiên, mặc dù có ý nghĩa lớn về mặt phương pháp luận, mô hình Solow cũng tồn tại những hạn chế cơ bản. Trước hết, trong khuôn khổ tân cổ điển, TFP về bản chất được xem như một yếu tố ngoại sinh, tức là phần “dư” còn lại sau khi đã tính đến đóng góp của tích lũy vốn và lao động. Điều này khiến mô hình có khả năng giải thích khá tốt mứctăng trưởng, nhưng lại hạn chế trong việc giải thích nguồn gốccủa tăng trưởng dài hạn, đặc biệt là vai trò của đổi mới công nghệ, vốn con người, khả năng học hỏi hay hiệu ứng lan tỏa tri thức. Nói cách khác, mô hình Solow cho biết tăng trưởng đến từ đâu về mặt hạch toán, nhưng không giải thích rõ tại sao năng suất lại tăng và chính sách nào có thể tác động trực tiếp đến quá trình đó.
Cũng cần lưu ý rằng trong hạch toán tăng trưởng, TFP không nên được hiểu đơn giản là “năng suất” hay “hiệu suất”, mà thực chất là phần dư kế toán còn lại sau khi đã tính đến đóng góp của vốn và lao động. Do đó, TFP không chỉ phản ánh tiến bộ công nghệ hay cải thiện hiệu quả mà còn có thể bao hàm nhiều yếu tố khác như đổi mới tổ chức sản xuất, cải thiện quản trị, tái phân bổ nguồn lực, chất lượng thể chế, hiệu ứng học hỏi hoặc lợi thế kinh tế theo quy mô. Đồng thời, TFP cũng có thể chịu tác động của các yếu tố ngẫu nhiên như cú sốc bên ngoài, biến động thị trường, thiên tai, dịch bệnh hay sai số thống kê. Vì vậy, TFP không nhất thiết phản ánh năng suất thực sự của nền kinh tế mà thường chỉ là phần tăng trưởng chưa được giải thích bởi các yếu tố đầu vào quan sát được. Do đó cần thận trọng khi diễn giải TFP như một thước đo trực tiếp của hiệu quả kinh tế.
Từ cuối thập niên 1980, nhiều nhà kinh tế đã phát triển các mô hình tăng trưởng nội sinh, trong đó tăng trưởng được giải thích như kết quả của các quyết định đầu tư vào tri thức, đổi mới công nghệ và vốn con người ngay trong nền kinh tế. Các nghiên cứu tiên phong của Paul Romer (1986, 1990) cho thấy tiến bộ công nghệ không phải là yếu tố ngoại sinh mà được tạo ra thông qua hoạt động nghiên cứu, sáng tạo và tích lũy tri thức. Những đóng góp này đã được ghi nhận bằng Giải Nobel Kinh tế năm 2018. Robert Lucas (1988) nhấn mạnh vai trò của vốn con người và quá trình học hỏi, trong khi đó các nhà kinh tế đạt Giải Nobel Kinh tế 2025, Philippe Aghion và Peter Howitt (1992), đã phát triển mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới công nghệ và “sáng tạo mang tính hủy diệt” (creative destruction). Cùng với các nghiên cứu thực nghiệm của Robert Barro và Xavier Sala-i-Martin, các công trình này cho thấy đầu tư vào giáo dục, hạ tầng, đổi mới sáng tạo và thể chế có thể trực tiếp thúc đẩy năng suất và tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế.
Điểm khác cơ bản so với mô hình Solow là, trong các mô hình tăng trưởng nội sinh, năng suất không còn là yếu tố ngoại sinh mà được hình thành từ các hoạt động kinh tế cụ thể như R&D, tích lũy vốn con người, học hỏi qua sản xuất và hiệu ứng lan tỏa công nghệ. Nhờ vậy, mô hình này cung cấp một khuôn khổ phân tích giàu hàm ý chính sách hơn: tăng trưởng dài hạn có thể được thúc đẩy thông qua đầu tư vào giáo dục, đổi mới sáng tạo, hạ tầng tri thức, cũng như các thể chế khuyến khích sáng tạo và cạnh tranh.
Đối với một đô thị lớn như TP.HCM với cơ cấu kinh tế ngày càng dựa nhiều vào dịch vụ tri thức, công nghiệp công nghệ cao và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo… cách tiếp cận tăng trưởng nội sinh đặc biệt có ý nghĩa, cho phép nhìn nhận tăng trưởng không chỉ là kết quả của tích lũy vốn và mở rộng sản xuất mà còn là sản phẩm của quá trình tích lũy tri thức, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và gia tăng hiệu quả sản xuất. Từ góc độ chính sách, điều này hàm ý rằng chiến lược tăng trưởng của TP.HCM cần tập trung nhiều hơn vào đổi mới sáng tạo, phát triển vốn con người, kinh tế số và cải thiện chất lượng thể chế… Đây mới chính là những nguồn động lực tăng trưởng cao và bền bỉ cho TP.HCM trong tương lai.
3. Mô hình tăng trưởng nội sinh mở rộng
Mô hình tăng trưởng nội sinh dạng mở rộng được định nghĩa như sau:
Trong đó:
: vốn đầu tư tư nhân và nước ngoài
: vốn đầu tư công
: quy mô lao động
ℎ: hiệu quả lao động
: năng suất TFP Hạch toán tăng trưởng:
= + + (1 − − ) + (1 − − ) ℎ +
Áp dụng bộ tham số phù hợp với một siêu đô thị dịch vụ - công nghiệp TP.HCM:
= 0,3; = 0,1
Nghĩa là yếu tố vốn tư nhân và nước ngoài chiếm trọng số 30%; yếu tố vốn đầu tư công chiếm 10% và yếu tố lao động theo nghĩa rộng chiếm 60%.
Khi đó, phương trình hạch toán được viết lại như sau:
= 0,30 + 0,10 + 0,60 + 0,60 ℎ +
Với mục tiêu tăng trưởng = 10%, phân tích thực trạng cho thấy yếu tố quy mô lao động ( ) khó có thể đóng góp đáng kể vào tăng trưởng của TP.HCM trong giai đoạn tới. Là một đô thị lớn đã phát triển ở mức độ cao, thị trường lao động của thành phố hiện tương đối bão hòa và không còn dư địa mở rộng nhanh như các thập niên trước. Trên thực tế, tại TP.HCM (trước hợp nhất), quy mô lao động thậm chí có xu hướng chững lại hoặc giảm trong một số năm gần đây, cho thấy quá trình bão hòa của đô thị trung tâm. Trong khi đó, dù Bình Dương vẫn tiếp tục thu hút lao động nhờ hệ thống khu công nghiệp, thì Bà Rịa - Vũng Tàu trong thập niên qua cũng có mức thu hút nhập cư khá hạn chế. Điều này cho thấy mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào mở rộng quy mô lao động và thu hút nhập cư, vốn từng là động lực quan trọng trong giai đoạn công nghiệp hóa trước đây, sẽ ngày càng khó duy trì, buộc TP.HCM phải tìm cách nâng cao chất lượng lao động và cải thiện năng suất như những động lực tăng trưởng chính trong giai đoạn tới.
Với mục tiêu tăng trưởng = 10%, có thể xây dựng một kịch bản cơ sở có tính thực tế dựa trên những giới hạn và tiềm năng hiện hữu của nền kinh tế TP.HCM. Trước hết, xét về lao động, dư địa mở rộng quy mô lao động của thành phố không còn lớn như trước. Vì vậy, tốc độ tăng của số lượng lao động ( ) trong giai đoạn tới chỉ có thể dao động khoảng 0,8 - 1,5%/năm. Phần đóng góp của lao động vì thế chủ yếu phải đến từ chất lượng lao động, tức là năng suất của mỗi lao động. Nếu thông qua đào tạo kỹ năng, chuyển dịch cơ cấu ngành và ứng dụng công nghệ, lao động hiệu quả ( ℎ) có thể tăng khoảng 2,0 - 3,5%/năm, thì đây sẽ là nguồn đóng góp quan trọng cho tăng trưởng.
Về phía vốn, khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài vẫn là động lực chính của quá trình tích lũy tư bản của TP.HCM. Trong điều kiện môi trường đầu tư được cải thiện và dòng vốn tiếp tục chảy vào các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ và công nghệ, tốc độ tăng của vốn tư nhân và nước ngoài ( ) có thể đạt khoảng 5 - 8%/năm. Bên cạnh đó, nếu thành phố đẩy mạnh đầu tư các dự án cơ sở hạ tầng chiến lược như giao thông đô thị, logistics, hạ tầng số và các công trình liên kết vùng… thì vốn đầu tư công ( ) có thể tăng nhanh hơn, khoảng 8 - 15%/năm trong những năm cao điểm giải ngân đầu tư công.
Ngay cả khi các yếu tố đầu vào này tăng trưởng ở mức tương đối tích cực, tổng đóng góp của vốn và lao động vẫn khó đủ để tạo ra mức tăng trưởng hai con số. Vì vậy, phần còn lại của tăng trưởng phải đến từ TFP ( ), tức là những cải thiện về hiệu quả kinh tế xuất phát từ đổi mới sáng tạo, chuyển dịch cơ cấu ngành, hiệu ứng kết tụ đô thị, kinh tế số và cải thiện môi trường thể chế. Theo các tính toán sơ bộ, để đạt mục tiêu tăng trưởng 10%, phần đóng góp của TFP có thể cần đạt khoảng 4 - 6 điểm phần trăm.
Nói cách khác, trong kịch bản thực tế, tăng trưởng của TP.HCM sẽ là kết quả của sự kết hợp giữa tích lũy vốn, cải thiện chất lượng lao động và nâng cao năng suất của nền kinh tế. Trong đó, TFP không nhất thiết phải chiếm tới 60% tăng trưởng như mục tiêu định hướng nhưng vẫn phải đóng vai trò rất quan trọng, chiếm khoảng 40 - 60% tổng mức tăng trưởng, mới có thể giúp thành phố duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số trong bối cảnh quy mô kinh tế đã rất lớn.
Kịch bản 1: Tăng trưởng thiên về vốn
Trong kịch bản này, tăng trưởng của TP.HCM chủ yếu được thúc đẩy bởi tích lũy vốn, đặc biệt là trong bối cảnh thành phố đang chủ động đẩy mạnh giải ngân đầu tư công và khơi thông mạnh mẽ các dự án đầu tư của khu vực tư nhân. Cụ thể, giả định tốc độ tăng của vốn tư nhân và FDI ( ) đạt khoảng 8%/năm, cho thấy khả năng thu hút và mở rộng đầu tư của doanh nghiệp nếu môi trường kinh doanh được cải thiện. Đồng thời, vốn đầu tư công ( ) cũng tăng nhanh hơn, khoảng 15%/năm, nhờ việc đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng đô thị và tăng tốc giải ngân các dự án trọng điểm.
Về phía thị trường lao động, số lượng lao động ( ℎ) tăng khoảng 2%/năm, tương ứng với mức cải thiện vừa phải về kỹ năng và ứng dụng công nghệ.
Với các giả định trên, đóng góp của từng yếu tố vào tăng trưởng được ước tính như sau:
Tổng đóng góp từ các yếu tố đầu vào đạt khoảng 6,0 điểm phần trăm. Để đạt mục tiêu tăng trưởng 10%, phần còn lại phải đến từ năng suất nội sinh ( ), tương đương khoảng 4,0 điểm phần trăm. Xét về mặt chính sách, đây là kịch bản tăng trưởng thiên về vốn. Kịch bản này chỉ có thể thực hiện được nếu thành phố đẩy mạnh triển khai các dự án hạ tầng, tăng tốc giải ngân đầu tư công và nhanh chóng tháo gỡ các rào cản pháp lý để khơi thông dòng vốn đầu tư tư nhân và cạnh tranh thu hút FDI. Kịch bản này có thể tạo ra mức tăng trưởng cao trong ngắn hạn, nhưng về dài hạn chất lượng tăng trưởng không cao, vì nền kinh tế phụ thuộc khá nhiều vào mở rộng vốn đầu tư thay vì nâng cao năng suất. Do đó, đây có thể là giải pháp mang tính tình thế trong giai đoạn đầu, nhưng không phải là mô hình tăng trưởng bền vững cho TP.HCM trong dài hạn.
Kịch bản 2: Tăng trưởng thiên về năng suất, chất lượng cao
Kịch bản này giả định TP.HCM lựa chọn chiến lược tăng trưởng dựa nhiều hơn vào cải thiện năng suất và chất lượng nguồn lực thay vì gia tăng các yếu tố đầu vào. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với một nền kinh tế đô thị đã đạt quy mô lớn như TP.HCM. Theo giả định của kịch bản này, vốn đầu tư tư nhân và FDI ( ) tăng khoảng 5,5%/năm, tức tốc độ tích lũy vốn ở mức ổn định. Vốn đầu tư công ( ) tăng khoảng 10%/năm, tương ứng với việc duy trì đầu tư cơ sở hạ tầng ở mức khá nhưng không dựa quá nhiều vào mở rộng đầu tư công để thúc đẩy tăng trưởng. Về lao động, quy mô lao động
( ℎ) tăng khoảng 3,5%/năm, hàm ý sự cải thiện đáng kể về kỹ năng, trình độ và năng suất lao động.
Từ các giả định này, mức đóng góp của từng yếu tố vào tăng trưởng được tính và trình bày tại Hình 2. Như vậy, tổng đóng góp từ các yếu tố đầu vào đạt khoảng 5,35 điểm phần trăm. Để đạt mục tiêu tăng trưởng 10%, phần còn lại phải đến từ TFP ( ), tương đương khoảng 4,65 điểm phần trăm. So với kịch bản trước, đây là kịch bản có chất lượng tăng trưởng cao hơn, vì tỷ trọng đóng góp của năng suất và chất lượng lao động lớn hơn, trong khi phụ thuộc vào mở rộng vốn thấp hơn. Tuy nhiên, để thực hiện được kịch bản này, thành phố phải thúc đẩy mạnh các cải cách mang tính cơ cấu, bao gồm cải thiện thể chế kinh tế, nâng cao năng lực quản lý điều hành, cải thiện hiệu quả phân bổ nguồn lực, đẩy nhanh nâng cấp công nghệ và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Như vậy, kịch bản này phù hợp hơn với định hướng chính sách “tăng trưởng nhanh nhưng không đánh đổi chất lượng”, trong đó mục tiêu tăng trưởng cao gắn với cải thiện năng suất và tính bền vững của nền kinh tế.
Kịch bản 3: Tăng trưởng cân bằng, khả thi nhất đối với TP.HCM
Đây là kịch bản được xem là phù hợp và khả thi nhất đối với TP.HCM trong điều kiện hiện nay, vì tăng trưởng được tạo ra từ sự kết hợp tương đối hài hòa giữa tích lũy vốn, cải thiện chất lượng lao động và nâng cao TFP, thay vì phụ thuộc quá mức vào một động lực đơn lẻ. Kịch bản này cũng phản ánh đúng đặc điểm của một nền kinh tế đô thị lớn như TP.HCM với dư địa mở rộng vốn và lao động vẫn còn nhưng không còn đủ lớn để có thể một mình bảo đảm tăng trưởng hai con số.
Cụ thể, kịch bản giả định vốn đầu tư tư nhân và FDI ( ) tăng khoảng 6,5%/năm, phản ánh khả năng mở rộng đầu tư của khu vực doanh nghiệp trong bối cảnh môi trường kinh doanh được cải thiện nhưng chưa đạt mức bứt phá. Vốn đầu tư công ( ) tăng khoảng 12%/năm, ứng với sự quyết liệt trong giải ngân đầu tư công và triển khai các dự án hạ tầng trọng điểm, song vẫn nằm trong giới hạn có thể thực hiện được. Về lao động, số lượng lao động ( ℎ) tăng khoảng 3%/năm, hàm ý sự cải thiện đáng kể về chất lượng nguồn nhân lực, kỹ năng lao động và năng suất bình quân.
Với các giả định này, mức đóng góp của từng yếu tố vào tăng trưởng như được trình bày tại Hình 2, trong đó vốn đầu tư tư nhân và FDI đóng góp 1,95 điểm phần trăm; vốn đầu tư công đóng góp 1,2 điểm phần trăm; quy mô lao động chiếm 0,72 điểm phần trăm, và lao động hiệu quả đóng góp 1,8 điểm phần trăm. Như vậy, tổng
đóng góp từ các yếu tố đầu vào đạt khoảng 5,67 điểm phần trăm. Để đạt mục tiêu tăng trưởng 10%, phần còn lại phải được tạo ra từ TFP (gA), tương đương khoảng 4,33 điểm phần trăm. Ưu điểm của kịch bản này là không đòi hỏi sự bùng nổ quá mức của đầu tư hay lao động, do đó phù hợp hơn với điều kiện thực tế của TP.HCM, song vẫn đặt ra yêu cầu là thành phố phải tạo được hơn 4 điểm tăng trưởng từ TFP. Điều đó có nghĩa là tăng trưởng không thể chỉ trông chờ vào đầu tư hay thu hút lao động mà phải dựa đáng kể vào đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng lao động, tái phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn, phát triển kinh tế số và cải thiện chất lượng thể chế. Chính vì vậy, đây là kịch bản cân bằng nhất giữa tính khả thi trước mắt và chất lượng tăng trưởng dài hạn, phù hợp để xem như phương án trung tâm trong hoạch định chính sách cho TP.HCM.
4. Phân tích kịch bản chỉ tiêu điều hành nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng 10%
Mục tiêu tăng trưởng GRDP khoảng 10% trong năm 2026 đòi hỏi một hệ thống chỉ tiêu điều hành kinh tế cụ thể và khả thi. Trên nền tảng các chỉ tiêu kinh tế năm 2025 của TP.HCM: GRDP đạt khoảng 2.972,9 nghìn tỷ đồng theo giá hiện hành, tăng 7,53% so với năm trước (tính cả dầu khí). Cơ cấu kinh tế của thành phố sau hợp nhất với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu vẫn nghiêng về dịch vụ với tỷ trọng khoảng 52,2% GRDP, tiếp theo là công nghiệp - xây dựng chiếm 35,2%, nông nghiệp chiếm 1,7% và phần thuế sản phẩm trừ trợ cấp chiếm khoảng 10,9%. Đồng thời, nhiều chỉ tiêu quan trọng khác như tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt gần 685 nghìn tỷ đồng, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 1.945,8 nghìn tỷ đồng, doanh thu vận tải - kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 596,7 nghìn tỷ đồng, dư nợ tín dụng đạt hơn 5,08 triệu tỷ đồng, v.v… Bình quân trong năm 2025, thành phố có khoảng 7,49 triệu lao động đang làm việc, giải quyết việc làm cho hơn 494 nghìn lượt lao động, tạo mới hơn 177 nghìn việc làm, đón gần 8,6 triệu lượt khách quốc tế với tổng thu du lịch đạt 278,6 nghìn tỷ đồng, v.v…
Từ nền tảng đó, nếu đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP thực khoảng 10% trong năm 2026, quy mô GRDP tương ứng sẽ đạt khoảng 3,27 triệu tỷ đồng theo giá so sánh, tức cần tạo thêm gần 300 nghìn tỷ đồng giá trị gia tăng mới so với năm 2025. Để đạt mục tiêu này, bộ chỉ tiêu điều hành kinh tế nên được thiết kế theo hai tầng: (i) tầng kết quả, và (ii) tầng điều hành.
Ở tầng kết quả, cơ cấu tăng trưởng cho thấy khu vực dịch vụ vẫn phải tiếp tục giữ vai trò động lực chính của kinh tế thành phố. Với tỷ trọng chiếm hơn một nửa GRDP, khu vực dịch vụ cần đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 10,3 - 10,7% trong năm 2026 để đóng góp hơn 5,3 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung của thành phố. Điều này đòi hỏi sự mở rộng mạnh mẽ của các lĩnh vực thương mại, tài chính, bất động sản, vận tải, du lịch, tư vấn chuyên môn, giáo dục, y tế và các dịch vụ có giá trị gia tăng cao khác. Trong khi đó, khu vực công nghiệp - xây dựng cần đạt mức tăng trưởng khoảng 9,5 - 10,5%, cao hơn đáng kể so với mức 6,14% của năm 2025. Trọng tâm của khu vực này vẫn là công nghiệp chế biến chế tạo, vốn đã tăng 11,9% trong năm 2025 và chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị gia tăng công nghiệp. Với mục tiêu tăng trưởng mới, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) toàn ngành cần đạt mức tăng khoảng 10 - 11%, trong đó riêng ngành chế biến chế tạo cần duy trì mức tăng trên 12,5%. Khu vực nông nghiệp dù chỉ chiếm khoảng 1,7% GRDP nhưng vẫn đóng vai trò ổn định kinh tế sinh thái đô thị và cung ứng thực phẩm, do đó tốc độ tăng trưởng khoảng 3 - 3,5% được xem là phù hợp.
Ở tầng điều hành kinh tế, một loạt chỉ tiêu cụ thể cần được thiết kế để dẫn dắt các động lực tăng trưởng. Trước hết là động lực đầu tư. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội của thành phố cần tăng từ mức khoảng 684,9 nghìn tỷ đồng năm 2025 lên khoảng 780 - 800 nghìn tỷ đồng trong năm 2026, tương đương mức tăng danh nghĩa khoảng 11 - 14%. Trong đó, vốn đầu tư khu vực nhà nước cần tăng mạnh hơn, khoảng 15 - 20%, nhằm thúc đẩy các dự án hạ tầng giao thông, logistics, hạ tầng số có tác động lan tỏa lớn đến toàn bộ nền kinh tế. Đầu tư tư nhân và FDI vẫn đóng vai trò quan trọng trong mở rộng năng lực sản xuất, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ tài chính, bất động sản, du lịch, vận tải và logistics, v.v... Để hỗ trợ dòng vốn này, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn cần đạt khoảng 5,7 - 5,8 triệu tỷ đồng vào năm 2026, tương đương mức tăng trưởng tín dụng khoảng 12 - 15% so với cuối năm 2025.
Một động lực quan trọng khác của tăng trưởng là tiêu dùng và cung ứng các dịch vụ đô thị. Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của thành phố cần tăng từ khoảng 1,95 triệu tỷ đồng lên khoảng 2,16 - 2,20 triệu tỷ đồng trong năm 2026, tương đương mức tăng danh nghĩa khoảng 11 - 13%. Điều này củng cố vai trò của TP.HCM như là trung tâm tiêu dùng lớn nhất cả nước và là đầu mối phân phối hàng hóa của toàn vùng kinh tế phía Nam. Trong khi đó, lĩnh vực vận tải - kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải, vốn gắn với hệ thống cảng biển, sân bay và mạng lưới logistics của vùng, cần đạt doanh thu khoảng 662 - 680 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 11 - 14% so với năm 2025. Sự mở rộng của lĩnh vực vận tải, logistics, cảng biển không chỉ đóng góp trực tiếp vào GRDP mà còn làm giảm chi phí giao dịch và nâng cao năng suất của toàn bộ nền kinh tế.
Du lịch tiếp tục là một trong những ngành có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao và lan tỏa mạnh sang các ngành dịch vụ khác. Sau khi đạt gần 8,6 triệu lượt khách quốc tế trong năm 2025, TP.HCM cần đặt mục tiêu đón khoảng 10 - 10,5 triệu lượt khách quốc tế trong năm 2026. Nếu đạt được mức này, tổng doanh thu du lịch của thành phố có thể tăng từ khoảng 278,6 nghìn tỷ đồng lên khoảng 315 - 325 nghìn tỷ đồng. Sự mở rộng của ngành du lịch không chỉ đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng dịch vụ mà còn kích thích mạnh mẽ các ngành lưu trú, ăn uống, vận tải, thương mại và các dịch vụ giải trí đô thị.
Thị trường lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì đà tăng trưởng. Năm 2025, TP.HCM có khoảng 7,49 triệu lao động đang làm việc và tạo mới hơn 177 nghìn việc làm. Để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng của nền kinh tế năm 2026, tổng số lao động có việc làm cần tăng lên khoảng 7,58 - 7,60 triệu người, đồng thời số việc làm mới cần đạt khoảng 210 - 230 nghìn. Tuy nhiên, trong bối cảnh một đô thị lớn với thị trường lao động tương đối đầy đủ, tăng trưởng của thành phố không thể dựa chủ yếu vào gia tăng số lượng lao động. Thay vào đó, yếu tố quyết định nằm ở việc nâng cao năng suất lao động thông qua đào tạo kỹ năng, chuyển dịch cơ cấu lao động sang các ngành có giá trị gia tăng cao và cải thiện hiệu quả quản trị doanh nghiệp.
5. Một số gợi ý chính sách ngắn hạn nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng theo kịch bản đề ra
Từ góc nhìn của mô hình tăng trưởng nội sinh và kịch bản hạch toán tăng trưởng đã xây dựng, mục tiêu tăng trưởng GRDP khoảng 10% của TP.HCM trong năm 2026 phụ thuộc chủ yếu vào khả năng kích hoạt nhanh các động lực tăng trưởng trong ngắn hạn, đồng thời tạo điều kiện để nâng cao năng suất của nền kinh tế. Trong điều kiện thời gian thực hiện chính sách tương đối ngắn, đề bài đặt ra không thể là thiết kế các chiến lược dài hạn mà là triển khai hiệu quả các giải pháp có thể tạo ra tác động ngay đến đầu tư, sản xuất, tiêu dùng của nền kinh tế thành phố.
Trước hết, cần ưu tiên nhân lực, vật lực và tài lực để đẩy nhanh giải ngân đầu tư công và hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm. Theo kịch bản tăng trưởng đã tính toán, vốn đầu tư công đóng vai trò quan trọng trong việc kích hoạt đầu tư tư nhân và nâng cao năng suất của toàn bộ nền kinh tế. Vì vậy, trong ngắn hạn thành phố cần rà soát toàn bộ danh mục dự án đầu tư công, tập trung nguồn lực vào các dự án có khả năng hoàn thành nhanh và có tác động lan tỏa lớn, đặc biệt là các tuyến metro, giao thông kết nối vùng, các dự án logistics, cảng biển và hạ tầng số. Đồng thời, cần đơn giản hóa quy trình giải ngân, tăng quyền phân cấp chủ động cho các chủ đầu tư và áp dụng cơ chế giám sát tiến độ dự án theo thời gian thực để bảo đảm nguồn vốn đầu tư công được đưa vào nền kinh tế đúng thời điểm.
Song song với đó, thành phố cần triển khai chương trình tháo gỡ các dự án đầu tư và bất động sản đang bị đình trệ. Trong nhiều năm qua, một số lượng lớn dự án bất động sản, khu công nghiệp và dự án thương mại dịch vụ bị chậm tiến độ do vướng mắc về thủ tục pháp lý và quy hoạch. Việc giải quyết các dự án này trong ngắn hạn có thể tạo ra tác động lớn đến tổng vốn đầu tư xã hội, kích thích hoạt động xây dựng và mở rộng nguồn cung mặt bằng sản xuất kinh doanh. Thành phố cần thành lập các tổ công tác chuyên trách để rà soát và xử lý nhanh các vướng mắc về pháp lý, đồng thời áp dụng cơ chế một cửa trong giải quyết thủ tục cho các dự án lớn nhằm giảm chi phí và thời gian cho nhà đầu tư.
Nguồn: Tính toán của tác giả
Một nhóm chính sách quan trọng khác là kích thích tiêu dùng và pháttriển các ngành dịch vụ đô thị. Với tỷ trọng hơn một nửa GRDP, khu vực dịch vụ đóng vai trò động lực chính của tăng trưởng kinh tế TP.HCM. Trong ngắn hạn, thành phố có thể thúc đẩy tiêu dùng thông qua các chương trình khuyến mại tập trung, phát triển thương mại điện tử và mở rộng các sự kiện mua sắm, hội chợ và lễ hội du lịch. Đồng thời, cần thúc đẩy các hoạt động du lịch đô thị bằng cách mở rộng các sự kiện văn hóa, hội nghị quốc tế và hoạt động giải trí quy mô lớn, qua đó tăng lượng khách quốc tế và doanh thu du lịch. Những biện pháp này không chỉ làm tăng tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ mà còn tạo hiệu ứng lan tỏa sang các ngành vận tải, lưu trú và dịch vụ ăn uống.
Trong lĩnh vực sản xuất, cần triển khai chương trình hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ. Công nghiệp chế biến chế tạo là khu vực có năng suất cao và đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng của thành phố. Trong ngắn hạn, chính quyền thành phố cần phối hợp với các tổ chức tín dụng để bảo đảm nguồn vốn cho doanh nghiệp sản xuất, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận đất đai và hạ tầng trong các khu công nghiệp. Việc cải thiện thủ tục hành chính liên quan đến xuất nhập khẩu, hải quan và kiểm định sản phẩm cũng sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Bên cạnh đó, thúc đẩy hoạt động vận tải và logistics là một giải pháp có tác động nhanh đến năng suất của nền kinh tế. TP.HCM là trung tâm logistics lớn của cả nước, do đó việc cải thiện hiệu quả hoạt động của hệ thống vận tải và kho bãi có thể giúp giảm đáng kể chi phí giao dịch cho doanh nghiệp. Trong ngắn hạn, thành phố cần đẩy nhanh các dự án nâng cấp hạ tầng cảng biển, mở rộng các trung tâm logistics và cải thiện khả năng kết nối giữa cảng, sân bay và các khu công nghiệp.
Đồng thời, việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý vận tải và kho bãi sẽ giúp nâng cao hiệu quả vận hành của chuỗi cung ứng. Bên cạnh đó, ngành giao thông cần đảm bảo sự thông suốt, nhanh chóng và an toàn đối với các hoạt động dịch vụ vận tải với mục tiêu giảm chi phí cho doanh nghiệp và tăng sức cạnh tranh cho hàng hóa Việt Nam.
Một yếu tố quan trọng khác là cải thiện nhanh môi trường kinh doanh và thủ tục hành chính. Trong nhiều trường hợp, chi phí và thời gian thực hiện thủ tục hành chính có thể trở thành rào cản lớn đối với hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh. Vì vậy, trong ngắn hạn thành phố cần triển khai mạnh mẽ các giải pháp cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm triệt để các thủ tục hành chính và giấy phép con theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt là số hóa quy trình cấp phép đầu tư, cấp phép xây dựng và đăng ký kinh doanh. Việc giảm thời gian xử lý hồ sơ và minh bạch hóa quy trình hành chính không chỉ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí mà còn tạo động lực cho các dự án đầu tư mới - chính là yếu tố đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.
Cuối cùng, cần chú trọng các chương trình nâng cao kỹ năng lao động và kết nối thị trường lao động. Trong bối cảnh thị trường lao động của TP.HCM đã tương đối phát triển, tăng trưởng kinh tế phụ thuộc nhiều hơn vào việc nâng cao năng suất lao động thay vì chỉ tăng quy mô lao động. Do đó, thành phố cần triển khai các chương trình hỗ trợ đào tạo ngắn hạn nhằm nâng cao kỹ năng cho lực lượng lao động, làm cơ sở tái chuyển dịch cơ cấu lao động sang các ngành có năng suất cao hơn, đồng thời đáp ứng nhu cầu lao động cho các ngành mới nổi như trí tuệ nhân tạo, vi mạch, dịch vụ tài chính, vận tải, logistics, v.v... Đồng thời, cần tăng cường kết nối giữa các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp để bảo đảm nguồn cung lao động phù hợp với nhu cầu của thị trường.
6. Hàm ý chính sách từ mô hình tăng trưởng nội sinh hướng đến mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững của TP.HCM
Kịch bản hạch toán tăng trưởng cho thấy để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, nền kinh tế TP.HCM phải dựa trên sự kết hợp của nhiều nguồn lực: tích lũy vốn đầu tư tư nhân, FDI và vốn đầu tư công, mở rộng quy mô lao động, nâng cao chất lượng lao động, và đặc biệt là cải thiện TFP của nền kinh tế. Trong khuôn khổ lý thuyết tăng trưởng nội sinh, năng suất không phải là yếu tố ngoại sinh mà được tạo ra từ các quyết định đầu tư vào tri thức, công nghệ, vốn con người, thể chế và cấu trúc thị trường. Do đó, chiến lược tăng trưởng của TP.HCM để có thể bền vững không thể chỉ tập trung vào các chính sách ngắn hạn và mang tính tình thế. Thay vào đó, cần phải đồng thời xây dựng các cơ chế thúc đẩy đổi mới sáng tạo thực sự, nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ và cải thiện hiệu quả phân bổ nguồn lực của nền kinh tế.
Trước hết, về tích lũy vốn và môi trường đầu tư, TP.HCM cần tiếp tục củng cố và phát huy hơn nữa vai trò của khu vực kinh tế tư nhân như là “một động lực tăng trưởng quan trọng nhất” mà Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị đã xác định. Trong mô hình tăng trưởng nội sinh, đầu tư tư nhân không chỉ làm tăng vốn vật chất mà còn thúc đẩy quá trình học hỏi công nghệ, đổi mới sản phẩm và nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất. Điều này đòi hỏi thành phố phải cải thiện mạnh mẽ môi trường kinh doanh, đặc biệt là giảm chi phí gia nhập thị trường, rút ngắn thời gian phê duyệt dự án, minh bạch hóa quy hoạch và bảo đảm tính ổn định của chính sách. Đối với một trung tâm kinh tế lớn như TP.HCM, các cải cách thể chế ở cấp địa phương có thể tạo ra tác động lan tỏa lớn hơn nhiều so với các ưu đãi thuế và tài chính đơn lẻ. Cùng với đó, việc thu hút dòng vốn FDI cần tiếp tục nhất quán với chiến lược ưu tiên các dự án có chất lượng, các ngành công nghệ cao, trung tâm R&D, dịch vụ tài chính, logistics và các ngành kinh tế số có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa công nghệ sang khu vực doanh nghiệp trong nước.
Thứ hai, về vai trò của đầu tư công, lý thuyết tăng trưởng nội sinh nhấn mạnh rằng một số loại vốn đầu tư công có thể trực tiếp làm tăng năng suất của khu vực tư nhân. Đối với TP.HCM, các khoản đầu tư vào hạ tầng giao thông, vận tải, hạ tầng số và dữ liệu có thể làm giảm chi phí giao dịch và mở rộng khả năng kết nối của nền kinh tế. Vì vậy, thay vì phân tán nguồn lực cho nhiều dự án nhỏ, chiến lược đầu tư công nên tập trung vào các dự án có hiệu ứng mạng lưới (network effects) lớn, như kết nối cảng biển, sân bay, khu công nghiệp, phát triển hệ thống giao thông công cộng đô thị, các tuyến metro, xây dựng nền tảng dữ liệu số cho quản trị đô thị và dịch vụ công. Những khoản đầu tư này không chỉ đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng mà còn nâng cao năng suất tổng thể của nền kinh tế thông qua việc cải thiện môi trường sản xuất và kinh doanh. Đồng thời, đây cũng là thời điểm không thể thích hợp hơn để phát huy vai trò của doanh nghiệp nhà nước TP.HCM theo đúng tinh thần Nghị quyết 79 của Bộ Chính trị.
Thứ ba, phát triển vốn con người là điều kiện trung tâm của tăng trưởng nội sinh. Đối với một nền kinh tế có quy mô dân số và thị trường lao động lớn như TP.HCM, việc gia tăng số lượng lao động chỉ đóng góp hạn chế vào tăng trưởng. Động lực quan trọng hơn nằm ở việc nâng cao chất lượng lao động và dịch chuyển lao động sang các ngành có năng suất cao hơn. Do đó, chính sách giáo dục và đào tạo cần chuyển sang mô hình đào tạo gắn với nhu cầu của thị trường lao động trong các lĩnh vực như công nghệ thông tin, logistics, kỹ thuật công nghiệp, tài chính, v.v... Đồng thời, thành phố cần phát triển các chương trình đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho lực lượng lao động hiện hữu, giúp họ thích ứng nhanh với quá trình chuyển đổi số, AI và tự động hóa trong các ngành kinh tế.
Thứ tư, đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái công nghệ, khởi nghiệp cần trở thành trụ cột của chiến lược tăng trưởng mới. Trong các mô hình tăng trưởng nội sinh, đầu tư vào R&D tạo ra tri thức mới, làm tăng năng suất không chỉ cho doanh nghiệp đầu tư mà còn cho toàn bộ nền kinh tế thông qua hiệu ứng lan tỏa tri thức. Đối với TP.HCM, điều này đòi hỏi phải xây dựng được một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp hoàn chỉnh, bao gồm phát huy vai trò của các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ, quỹ đầu tư mạo hiểm và các trung tâm khởi nghiệp. Thành phố cần tạo điều kiện để các doanh nghiệp tham gia mạnh mẽ hơn vào hoạt động R&D, đồng thời thúc đẩy hợp tác hiệu quả, thực chất giữa khu vực học thuật và khu vực sản xuất nhằm thương mại hóa các kết quả nghiên cứu.
Thứ năm, phát triển kinh tế số và chuyển đổi số có thể trở thành nguồn tăng trưởng năng suất quan trọng. Trong nền kinh tế số, việc ứng dụng công nghệ thông tin và dữ liệu lớn có thể giúp doanh nghiệp giảm chi phí giao dịch, cải thiện hiệu quả quản trị và mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường. Đối với TP.HCM, việc xây dựng hạ tầng số dùng chung, phát triển chính quyền số và thúc đẩy thanh toán số có thể tạo ra những cải thiện đáng kể về hiệu quả hoạt động của toàn bộ nền kinh tế. Nếu các doanh nghiệp và cơ quan quản lý cùng chia sẻ dữ liệu và sử dụng các nền tảng số, quá trình ra quyết định sẽ nhanh hơn và chi phí phối hợp giữa các tác nhân kinh tế sẽ giảm đáng kể.
Cuối cùng, tăng trưởng bền vững đòi hỏi phải gắn kết giữa phát triển kinh tế với năng lực quản trị đô thị. Một thành phố có quy mô kinh tế lớn và phức tạp như TP.HCM đang phải đối mặt với nhiều thách thức về ô nhiễm môi trường, ngập nước, tắc nghẽn giao thông, thiếu liên kết không gian kinh tế - đô thị, v.v... Nếu những vấn đề này không được giải quyết hiệu quả, nó có thể làm giảm năng suất của nền kinh tế. Vì vậy, chiến lược tăng trưởng cần gắn với quy hoạch lại đô thị một cách năng suất, bền vững và đáng sống, đầu tư mạnh mẽ cho giao thông công cộng, sắp xếp lại không gian đô thị, mở rộng không gian xanh và nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ đô thị.
Tóm lại, từ góc nhìn của lý thuyết tăng trưởng nội sinh và kịch bản hạch toán tăng trưởng của TP.HCM, con đường đạt được tốc độ tăng trưởng cao và bền vững không đơn giản chỉ là mở rộng các yếu tố đầu vào mà chìa khóa chính là nâng cao năng suất của nền kinh tế thông qua cải cách thể chế, đầu tư vào cơ sở hạ tầng then chốt, phát triển vốn con người, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nếu tìm được chất keo kết dính các yếu tố này một cách hiệu quả, TP.HCM không chỉ đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số mà còn kiến tạo được nền tảng cho sự phát triển bền bỉ trong dài hạn./.
PV