Định hướng này được cụ thể hóa trong chương trình hành động của Thành ủy TP.HCM nhằm triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Thành phố xác định phát triển văn hóa theo hướng “thống nhất trong đa dạng”, kết hợp hài hòa giữa bảo tồn giá trị truyền thống và thúc đẩy các yếu tố hiện đại, hội nhập quốc tế.
Trong ngắn hạn, TP.HCM đặt mục tiêu đến hết năm 2026 hoàn thành số hóa 100% di sản văn hóa cấp quốc gia và cấp quốc gia đặc biệt; đến năm 2027 hoàn tất số hóa toàn bộ di sản văn hóa cấp thành phố.
Đến năm 2030, hệ thống thiết chế văn hóa - thể thao được phủ kín, với 100% xã, phường, đặc khu và lực lượng vũ trang có cơ sở văn hóa, thể thao; đồng thời mọi khu dân cư đều có không gian sinh hoạt cộng đồng. Thành phố cũng cam kết dành tối thiểu 2% tổng chi ngân sách hằng năm cho lĩnh vực văn hóa, với lộ trình tăng dần theo nhu cầu thực tiễn.
TP.HCM hướng tới đô thị văn hóa toàn cầu vào năm 2045
TP.HCM định hướng phát triển mạnh công nghiệp văn hóa, phấn đấu hình thành ít nhất 5 thương hiệu quốc gia trong các lĩnh vực có lợi thế như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, quảng cáo, du lịch văn hóa, thiết kế và thời trang.
Song song đó, thành phố sẽ nâng tầm và tổ chức định kỳ tối thiểu 6 sự kiện, lễ hội văn hóa - thể thao đạt chuẩn quốc tế, có sức lan tỏa rộng. Ít nhất 5 công trình văn hóa, thể thao mang tính biểu tượng cũng sẽ được xây dựng đạt chuẩn quốc tế vào năm 2030.
Đáng chú ý, TP.HCM đặt mục tiêu hoàn thiện hồ sơ đề cử Địa đạo Củ Chi để trình UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.
Tầm nhìn đến năm 2045, công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo được xác định là một trong những trụ cột phát triển bền vững, đóng góp tối thiểu 10% GRDP của thành phố. Đây cũng là nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh và gia tăng “sức mạnh mềm” trong hội nhập quốc tế.
TP.HCM xác định cải cách cơ chế, chính sách là yếu tố then chốt nhằm huy động nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa. Thành phố sẽ tiếp tục hoàn thiện chính sách đãi ngộ đối với văn nghệ sĩ, chuyên gia văn hóa theo hướng tiệm cận các lĩnh vực công nghệ cao, đồng thời áp dụng cơ chế “đặt hàng” đối với các tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao.
Một số dự án trọng điểm cũng được thúc đẩy, như công viên Cảng Nhà Rồng và mở rộng không gian văn hóa Hồ Chí Minh tại khu vực Bến Nhà Rồng. Thành phố hướng tới thiết lập mạng lưới “đô thị sống tốt” thông qua kết nối không gian xanh với không gian văn hóa, khai thác lợi thế ven sông Sài Gòn và liên kết vùng với Bà Rịa - Vũng Tàu.
Thành phố đặt trọng tâm vào việc số hóa toàn diện di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, kết hợp ứng dụng công nghệ như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và thực tế ảo trong sản xuất, phân phối và tiêu dùng sản phẩm văn hóa.
Hệ sinh thái văn hóa sáng tạo được xây dựng với doanh nghiệp là động lực, người dân là trung tâm. TP.HCM cũng chủ động hội nhập quốc tế, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới.
TP.HCM định hướng hình thành các phân khu công nghiệp văn hóa đặc thù sau khi mở rộng không gian phát triển. Trong đó, khu vực trung tâm giữ vai trò điều phối chiến lược, phát triển thị trường bản quyền và đào tạo nhân lực chất lượng cao.
Khu vực Bình Dương được định hướng trở thành trung tâm thiết kế và chế tác sản phẩm văn hóa, tận dụng lợi thế công nghiệp. Trong khi đó, Bà Rịa - Vũng Tàu sẽ phát triển thành trung tâm tổ chức sự kiện quốc tế gắn với du lịch, thông qua các liên hoan phim và lễ hội quy mô toàn cầu.
Với chiến lược này, TP.HCM kỳ vọng không chỉ nâng tầm vị thế văn hóa mà còn tạo động lực tăng trưởng mới, hướng tới một đô thị hiện đại, sáng tạo và có sức cạnh tranh toàn cầu vào năm 2045.
Văn Tùng