Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM vừa báo cáo UBND TP về kết quả triển khai “Đề án phát triển các vùng sản xuất rau an toàn, tập trung, đảm bảo truy xuất nguồn gốc gắn với chế biến và tiêu thụ trên địa bàn TP.HCM năm 2025, định hướng năm 2026”. Những con số trong báo cáo cho thấy nông nghiệp đô thị TP.HCM đang bước vào giai đoạn chuyển mình rõ nét, khi công nghệ, dữ liệu và quản trị chuỗi giá trị dần thay thế phương thức sản xuất truyền thống.
Khi công nghệ “lên ngôi” trên đồng ruộng
Theo ông Dương Đức Trọng - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM - mục tiêu lớn nhất của đề án không chỉ dừng lại ở việc gia tăng sản lượng, mà là tái cấu trúc toàn bộ chuỗi sản xuất – tiêu thụ theo hướng minh bạch, có truy xuất, có trách nhiệm và gia tăng giá trị.
TP.HCM ứng dụng AI, IoT để giải quyết những bài toán rất thực tế của nông nghiệp đô thị như thiếu lao động, tác động của biến đổi khí hậu, dịch bệnh trên cây trồng - Ảnh: minh họa
“Trong bối cảnh một đô thị đặc biệt như TP.HCM, nông nghiệp không thể tiếp tục đi theo lối mòn ‘lấy số lượng bù chất lượng’. Chúng tôi xác định phải phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp an toàn và nông nghiệp gắn chặt với thị trường”, ông Trọng nhấn mạnh.
Bức tranh nông nghiệp năm 2025 của TP.HCM cho thấy dấu ấn ngày càng rõ của khoa học – công nghệ. Tổng diện tích gieo trồng rau đạt 38.557 ha, sản lượng khoảng 884.950 tấn, tăng 4,5% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, diện tích ứng dụng công nghệ cao đã chiếm 16,5% tổng diện tích gieo trồng, tương đương hơn 6.350 ha.
Tại các vùng sản xuất rau trọng điểm như Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, hình ảnh người nông dân canh tác thủ công đang dần nhường chỗ cho các mô hình sản xuất dựa trên cảm biến, dữ liệu và tự động hóa. Hệ thống tưới nhỏ giọt công nghệ Israel, thiết bị đo nhiệt độ – độ ẩm, phần mềm quản lý dinh dưỡng cây trồng… được vận hành ngay trên điện thoại thông minh.
Theo ông Dương Đức Trọng, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), IoT (Internet vạn vật) hay các hệ thống thu thập dữ liệu số không nhằm “trình diễn công nghệ”, mà để giải quyết những bài toán rất thực tế của nông nghiệp đô thị như thiếu lao động, tác động của biến đổi khí hậu, dịch bệnh trên cây trồng và yêu cầu ngày càng khắt khe từ thị trường. “Công nghệ giúp giảm rủi ro, tiết kiệm chi phí và quan trọng hơn là tạo ra sản phẩm ổn định, đồng đều về chất lượng”, ông Trọng nói.
Chính cách tiếp cận này đã kéo giá trị sản xuất bình quân lên khoảng 720 triệu đồng/ha/năm – một con số được xem là “ngưỡng mơ ước” trong điều kiện quỹ đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp.
Mã số vùng trồng – “hộ chiếu” của nông sản
Không chỉ dừng ở khâu sản xuất, TP.HCM đang đặt trọng tâm vào truy xuất nguồn gốc – yếu tố được ví như “hộ chiếu” của nông sản trong nền kinh tế hội nhập. Năm 2025, thành phố đã cấp 25 mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu sang các thị trường khó tính như EU và 68 mã số vùng trồng phục vụ tiêu thụ nội địa.
Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM, mã số vùng trồng không chỉ để đáp ứng yêu cầu xuất khẩu, mà còn là công cụ quản lý rủi ro an toàn thực phẩm ngay từ gốc. “Khi xảy ra sự cố, việc truy xuất được nguồn gốc sẽ giúp khoanh vùng, xử lý chính xác, tránh ảnh hưởng đến cả ngành”, ông Trọng phân tích.
Song song đó, thành phố hiện duy trì 451 cơ sở đạt chứng nhận VietGAP với diện tích hơn 5.000 ha, đồng thời triển khai mô hình “Chuỗi thực phẩm an toàn” nhằm giám sát xuyên suốt từ sản xuất đến tiêu dùng. Người dân có thể kiểm tra thông tin sản phẩm tại siêu thị, cửa hàng thực phẩm và bếp ăn tập thể thông qua hệ thống truy xuất nguồn gốc ngày càng hoàn thiện.
Một điểm sáng khác là việc TP.HCM chủ động lan tỏa mô hình sản xuất rau an toàn ra các tỉnh, thành lân cận. Thông qua các chương trình hợp tác vùng, nhiều quy trình kỹ thuật và mô hình chuỗi giá trị đã được chuyển giao hiệu quả.
Đây được xem là cách để TP.HCM giữ vai trò trung tâm tiêu thụ, trung tâm kỹ thuật và trung tâm điều phối thị trường, thay vì tự sản xuất bằng mọi giá. Liên kết vùng giúp đảm bảo nguồn cung ổn định cho thành phố, đồng thời tạo đầu ra bền vững cho nông dân các địa phương.
Thực tế cho thấy, mô hình chuỗi rau VietGAP tại Bà Rịa – Vũng Tàu sau khi áp dụng kỹ thuật từ TP.HCM đã tăng năng suất 15–20%. Một số hợp tác xã còn xuất khẩu thành công sang thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc.
Những “điểm nghẽn” chưa thể né tránh
Dù đạt được nhiều kết quả tích cực, lãnh đạo ngành nông nghiệp TP.HCM cũng thẳng thắn nhìn nhận những tồn tại. Liên kết giữa nông dân – hợp tác xã – doanh nghiệp vẫn chưa thực sự chặt chẽ, trong khi giá thu mua rau an toàn chưa đủ sức tạo động lực lâu dài cho người sản xuất.
Theo ông Dương Đức Trọng, đây là bài toán cần được giải quyết bằng cơ chế thị trường đi kèm chính sách hỗ trợ đúng trọng tâm, thay vì chỉ dừng ở việc kêu gọi sự tự giác. Bên cạnh đó, hệ thống văn bản hướng dẫn về truy xuất nguồn gốc và hỗ trợ chuyển đổi số trong nông nghiệp vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng đồng bộ, thống nhất.
Bước sang năm 2026, TP.HCM đặt mục tiêu diện tích gieo trồng rau đạt 39.000 ha, sản lượng khoảng 904.800 tấn; tỷ lệ diện tích sản xuất rau an toàn tập trung, có truy xuất nguồn gốc nâng lên 17%.
Theo kế hoạch của Sở Nông nghiệp và Môi trường, thành phố sẽ tiếp tục chọn tạo các giống rau phù hợp điều kiện đô thị, đẩy mạnh đào tạo IPHM cho nông dân và tăng cường hậu kiểm với mục tiêu 95% mẫu rau kiểm tra đạt chuẩn an toàn. Khi người tiêu dùng đặt niềm tin vào sản phẩm, thị trường sẽ tự điều tiết theo hướng ủng hộ sản xuất an toàn.
Hành trình phát triển vùng rau an toàn tại TP.HCM vì thế không chỉ là câu chuyện của công nghệ hay sản lượng, mà là câu chuyện chuyển đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp – nơi mỗi bó rau đều có nguồn gốc, có trách nhiệm và mang giá trị bền vững trong từng bữa ăn của người dân đô thị.
Hồ Quang