TP.Hồ Chí Minh có hơn 670.000 héc-ta đất tự nhiên sau sáp nhập
Việc thống kê đất đai năm 2025 được thực hiện trên cơ sở cập nhật biến động sử dụng đất đến ngày 31/12/2025 từ dữ liệu kiểm kê đất đai năm 2024 của toàn bộ 168 phường, xã, đặc khu; và dữ liệu được đồng bộ lên hệ thống thống kê, kiểm kê đất đai của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
ĐẤT NÔNG NGHIỆP CHIẾM HƠN 66% DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN
TP.Hồ Chí Minh sau sáp nhập (Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu hợp nhất với TP.Hồ Chí Minh hình thành TP.Hồ Chí Minh mới) nằm ở trung tâm vùng Đông Nam Bộ, giáp Đồng Nai (gồm Đồng Nai và Bình Phước cũ), Tây Ninh (Tây Ninh và Long An cũ), Lâm Đồng (Lâm Đồng và Bình Thuận cũ) và Biển Đông.
Năm 2025, GRDP toàn thành phố ước tăng 8,03%; trong đó, khu vực TP.Hồ Chí Minh cũ tăng 8,07%, Bình Dương cũ tăng 8,88% và Bà Rịa - Vũng Tàu cũ tăng 5,44%.
Theo báo cáo, năm 2025, Thành phố đã đưa vào hoạt động nhiều công trình hạ tầng kỹ thuật, giao thông trọng điểm, triển khai các tuyến đường sắt đô thị, công trình cảng biển và các dự án phòng chống sạt lở. Những yếu tố này tác động trực tiếp đến biến động sử dụng đất, đặc biệt là sự gia tăng diện tích đất giao thông và đất hạ tầng kỹ thuật.
Kết quả thống kê cho thấy, nhóm đất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu sử dụng đất của TP.Hồ Chí Minh với 451.358 ha, tương đương 66,41% diện tích tự nhiên toàn thành phố.
Trong nhóm này, đất trồng cây lâu năm có diện tích lớn nhất với 273.483 ha, chiếm hơn 60% diện tích đất nông nghiệp và khoảng 40,24% diện tích tự nhiên. Các loại cây chủ yếu là cây ăn quả lâu năm và vườn tạp, phân bố tập trung tại các xã ngoại thành.
Đất trồng cây hằng năm đạt 78.944 ha, trong đó đất trồng lúa 33.165 ha. Riêng diện tích đất chuyên trồng lúa đạt 16.343 ha, còn lại là đất trồng lúa khác với 16.821 ha. Đất trồng cây hằng năm khác đạt 45.779 ha.
Đất lâm nghiệp toàn thành phố đạt 78.849 ha, chiếm 11,6% diện tích tự nhiên. Trong đó, đất rừng phòng hộ chiếm tỷ lệ lớn nhất với 49.903 ha, tương đương 63,29% diện tích đất lâm nghiệp. Đất rừng đặc dụng đạt 16.954 ha và đất rừng sản xuất đạt 11.993 ha.
Các khu vực có diện tích đất lâm nghiệp lớn tập trung tại xã An Thới Đông, xã Cần Giờ, xã Bình Khánh, xã Thạnh An, đặc khu Côn Đảo, xã Bình Châu, xã Xuyên Mộc, xã Hòa Hội, xã Hồ Tràm, xã Phú Giáo, xã Minh Thạnh và xã Dầu Tiếng.
Ngoài ra, thành phố còn có 15.097 ha đất nuôi trồng thủy sản, phân bố tại các khu vực ven biển và ven sông như An Thới Đông, Bình Khánh, Hiệp Phước, Long Hương, Long Sơn và Phước Thắng. Đất làm muối đạt 3.285 ha, chủ yếu tập trung tại Cần Giờ, Thạnh An, Long Điền và Long Sơn.
Theo thống kê, nhóm đất nông nghiệp năm 2025 giảm 924 ha so với năm 2024. Trong đó, đất trồng cây lâu năm giảm 713 ha, đất trồng cây hằng năm giảm 255 ha và đất trồng lúa giảm 128 ha. Diện tích đất nông nghiệp giảm do chuyển mục đích sử dụng sang đất phi nông nghiệp phục vụ phát triển đô thị, công nghiệp và hạ tầng.
ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP TĂNG HƠN 1.000 HA
Năm 2025, TP.Hồ Chí Minh có 218.941 ha đất phi nông nghiệp, chiếm 32,21% diện tích tự nhiên toàn thành phố, tăng 1.006 ha so với năm trước.
Trong nhóm đất phi nông nghiệp, đất ở đạt 51.624 ha. Trong đó, đất ở đô thị đạt 35.530 ha và đất ở nông thôn đạt 16.093 ha. So với năm 2024, đất ở nông thôn tăng 869 ha, trong khi đất ở đô thị giảm 749 ha.
Theo báo cáo, diện tích đất ở nông thôn tăng do mở rộng các khu dân cư nông thôn và điều chỉnh phân loại đất ở sau khi sáp nhập địa giới hành chính.
Đất sử dụng vào mục đích công cộng đạt 47.298 ha. Riêng đất công trình giao thông đạt 36.589 ha, tăng 591 ha so với năm 2024. Đây là nhóm đất có mức tăng đáng chú ý trong bối cảnh thành phố triển khai nhiều dự án hạ tầng giao thông trọng điểm, đường vành đai và các tuyến đường sắt đô thị.
Đất nông nghiệp của TP.Hồ Chí Minh chiếm 66% tổng diện tích đất tự nhiên (sau sáp nhập). Ảnh: Sỹ Đông
Trong khi đó, đất công trình thủy lợi giảm 987 ha, còn 5.433 ha. Đất khu vui chơi, giải trí công cộng và sinh hoạt cộng đồng tăng 124 ha, đạt 2.725 ha.
Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp đạt 41.850 ha, tăng 57 ha so với năm trước. Trong đó, đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp tăng 78 ha, đạt 12.397 ha; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản tăng 9 ha, đạt 1.750 ha.
Đất quốc phòng và an ninh đạt 14.773 ha, chiếm 6,75% diện tích đất phi nông nghiệp. Đất xây dựng công trình sự nghiệp đạt 8.312 ha, trong đó đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo đạt 4.474 ha, tăng 41 ha; đất xây dựng cơ sở y tế đạt 629 ha, tăng 23 ha.
Một trong những nhóm đất tăng mạnh là đất có mặt nước chuyên dùng với 50.905 ha, tăng 1.072 ha so với năm 2024. Trong đó, đất có mặt nước dạng sông, ngòi, kênh, rạch và suối tăng 1.088 ha.
Báo cáo cho biết sự biến động này xuất phát từ việc cập nhật, chuẩn hóa hồ sơ địa chính và thực hiện các dự án nạo vét, chỉnh trị sông, kênh rạch trên địa bàn.
THÀNH PHỐ CÒN HƠN 9.300 HA ĐẤT CHƯA SỬ DỤNG
Theo thống kê năm 2025, TP.Hồ Chí Minh còn 9.392 ha đất chưa sử dụng, chiếm 1,38% diện tích tự nhiên, giảm 82 ha so với năm trước.
Trong đó, đất do Nhà nước thu hồi nhưng chưa giao, chưa cho thuê đạt 4.714 ha, chiếm hơn 50% diện tích đất chưa sử dụng. Các khu vực có diện tích lớn gồm xã Thường Tân, xã Bắc Tân Uyên, phường Phước Thắng, phường Tân Phước và xã Châu Pha.
Đất có mặt nước chưa sử dụng đạt 3.304 ha, tập trung chủ yếu tại xã Cần Giờ với 2.872 ha, ngoài ra còn có tại Long Hải, Vũng Tàu, Phước Thắng, Tam Thắng và Rạch Dừa.
Về đối tượng sử dụng đất, cá nhân trong nước sử dụng diện tích lớn nhất với 334.842 ha, tương đương gần 49,26% tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố. Trong đó, phần lớn là đất nông nghiệp với 287.146 ha.
Các tổ chức trong nước sử dụng 167.351 ha đất, tương đương 24,61% diện tích tự nhiên. Riêng tổ chức kinh tế sử dụng 131.607 ha. Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng 5.661 ha đất, trong khi tổ chức tôn giáo sử dụng 1.176 ha và cộng đồng dân cư sử dụng 402 ha.
Báo cáo cũng cho biết diện tích đất được giao quản lý đạt 170.292 ha, chiếm 25,05% tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố. Trong đó, cơ quan nhà nước, cơ quan đảng và đơn vị vũ trang quản lý 123.359 ha; đơn vị sự nghiệp công lập quản lý 42.620 ha.
Trong quá trình thực hiện thống kê đất đai năm 2025, thành phố ghi nhận một số khó khăn do khác biệt về phân loại và mã hóa loại đất giữa các địa phương trước sáp nhập; một số khu vực giáp ranh chưa được cắm mốc, đo đạc đầy đủ; hồ sơ địa chính tại một số xã, phường mới chưa được số hóa đồng bộ; khối lượng dữ liệu lớn trong khi thời gian tổng hợp ngắn.
Dữ liệu thống kê đất đai năm 2025 (Báo cáo 207/BC-UBND) này đã được cập nhật lên hệ thống thống kê, kiểm kê đất đai của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, làm cơ sở kết nối và tích hợp với cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia trong thời gian tới.
Xuân Nghi