TP.HCM ban hành quy định định mức kinh tế - kỹ thuật thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng nhằm chuẩn hóa quy trình, xác lập cơ sở tính toán chi phí, nâng cao hiệu quả quản lý. Ảnh mang tính minh họa
Quyết định có hiệu lực từ ngày 31/3/2026, áp dụng đối với các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chuyên môn về nông nghiệp và môi trường các cấp, chính quyền cơ sở và các tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động thống kê, kiểm kê đất đai trên địa bàn.
Đây được xem là nền tảng quan trọng để chuẩn hóa quy trình, xác lập cơ sở tính toán chi phí và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai trong bối cảnh Thành phố đẩy mạnh chuyển đổi số và hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai.
CHUẨN HÓA TOÀN BỘ QUY TRÌNH KIỂM KÊ ĐẤT ĐAI
Theo quy định, định mức kinh tế - kỹ thuật được xây dựng cho ba nhóm nhiệm vụ chính gồm: thống kê đất đai hằng năm, kiểm kê đất đai định kỳ 5 năm và kiểm kê chuyên đề, bao gồm cả việc lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất.
Điểm đáng chú ý là toàn bộ quy trình công việc được “chuẩn hóa” theo từng bước cụ thể, từ khâu chuẩn bị, thu thập tài liệu, rà soát biến động đất đai đến xử lý số liệu, lập báo cáo và hoàn thiện sản phẩm cuối cùng. Ở cấp xã là cấp trực tiếp triển khai, quy trình thống kê đất đai bao gồm các bước từ thu thập hồ sơ, xác định phạm vi, cập nhật biến động, khoanh vẽ bản đồ đến phân tích, đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý.
Đối với cấp Thành phố, quy trình được mở rộng với yêu cầu tổng hợp dữ liệu từ cơ sở, kiểm tra tính đầy đủ, đối chiếu với số liệu đất quốc phòng, đất an ninh và xử lý các sai lệch trước khi xây dựng báo cáo tổng hợp.
Đặc biệt, quy định nhấn mạnh yêu cầu phân tích sâu hiện trạng sử dụng đất, đánh giá nguyên nhân biến động so với kỳ trước, qua đó, không chỉ dừng ở việc “thống kê số liệu” mà còn hướng tới phục vụ hoạch định chính sách và điều hành phát triển.
Song song với đó, công tác kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất cũng được quy định chi tiết, bao gồm cả điều tra thực địa, đối soát dữ liệu, cập nhật bản đồ số và xây dựng báo cáo thuyết minh. Việc sử dụng linh hoạt các nguồn dữ liệu như cơ sở dữ liệu đất đai, bản đồ địa chính hoặc dữ liệu nền địa lý quốc gia giúp bảo đảm tính liên tục và độ chính xác của thông tin.
CĂN CỨ ĐỂ XÁC LẬP CHI PHÍ VÀ PHÂN BỔ NGUỒN LỰC MINH BẠCH
Một trong những nội dung cốt lõi của Quyết định là xây dựng hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật làm căn cứ tính toán chi phí cho các hoạt động thống kê, kiểm kê đất đai. Theo đó, định mức được cấu thành từ ba yếu tố chính, gồm: định mức lao động, định mức vật tư và định mức thiết bị.
Trong đó, định mức lao động được quy định chi tiết theo từng bước công việc, xác định rõ cấp bậc nhân lực, thời gian thực hiện và đơn vị tính (ngày công), tạo cơ sở để tính toán chi phí nhân công một cách khoa học.
Định mức vật tư và thiết bị cũng được lượng hóa cụ thể, bao gồm mức sử dụng vật liệu, dụng cụ và máy móc cho từng đơn vị sản phẩm, đồng thời tính toán cả điện năng tiêu thụ theo công suất và thời gian sử dụng.
Đáng chú ý, hệ thống định mức không áp dụng cứng nhắc mà có cơ chế điều chỉnh linh hoạt thông qua các hệ số. Cụ thể, hệ số quy mô diện tích (Kdtx) phản ánh sự khác biệt về diện tích tự nhiên giữa các địa bàn; hệ số khu vực (Kkv) điều chỉnh theo đặc thù giữa xã, phường và đặc khu; hệ số tỷ lệ bản đồ (Ktlx) tính đến độ chi tiết của bản đồ sử dụng.
Cách tiếp cận này cho phép định mức được “cá thể hóa” theo từng địa bàn cụ thể, bảo đảm phản ánh đúng khối lượng công việc và mức độ phức tạp trong thực tế, thay vì áp dụng một mức chung cho toàn Thành phố.
Quy định cũng xác định rõ việc sử dụng định mức làm căn cứ để xây dựng đơn giá sản phẩm, lập dự toán, giao nhiệm vụ và quyết toán kinh phí đối với các hoạt động thống kê, kiểm kê đất đai. Điều này góp phần nâng cao tính minh bạch, tránh tình trạng áp dụng tùy tiện hoặc thiếu thống nhất trong quá trình triển khai.
NỀN TẢNG CHO QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI ĐỒNG BỘ VÀ HIỆN ĐẠI
Việc ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật, mà còn là bước đi quan trọng trong quá trình hiện đại hóa công tác quản lý đất đai của TP.Hồ Chí Minh.
Thông qua việc chuẩn hóa quy trình, lượng hóa chi phí và tăng cường tính liên thông dữ liệu giữa các cấp, Thành phố có thêm công cụ để xây dựng hệ thống thông tin đất đai đồng bộ, phục vụ hiệu quả công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cũng như quản lý biến động đất đai trong thực tế.
Đồng thời, quy định này cũng tạo điều kiện để các địa phương chủ động hơn trong tổ chức thực hiện, từ cấp xã đến cấp Thành phố, với cơ chế rõ ràng về trách nhiệm, quy trình và nguồn lực.
Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao tổ chức triển khai, xây dựng bộ đơn giá cụ thể trên cơ sở định mức ban hành, đồng thời, theo dõi, tổng hợp khó khăn, vướng mắc để kịp thời tham mưu điều chỉnh, bảo đảm phù hợp với thực tiễn và quy định pháp luật hiện hành.
Trong bối cảnh yêu cầu quản lý đất đai ngày càng cao, đặc biệt tại một đô thị lớn như TP.Hồ Chí Minh, việc thiết lập một hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật đồng bộ, chi tiết và linh hoạt được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao chất lượng dữ liệu đất đai, tăng hiệu quả quản lý và tạo nền tảng cho phát triển bền vững trong thời gian tới.
Thiên Ân