Triển vọng kinh tế Việt Nam nhìn từ Nghị quyết 79 và Nghị quyết 68

Triển vọng kinh tế Việt Nam nhìn từ Nghị quyết 79 và Nghị quyết 68
4 giờ trướcBài gốc
Nếu Nghị quyết 79 xác lập vai trò dẫn dắt, ổn định và định hướng của kinh tế nhà nước thì Nghị quyết 68 mở rộng không gian phát triển và khơi dậy toàn bộ tiềm năng của khu vực kinh tế tư nhân. Đặt cạnh nhau, hai nghị quyết không tách rời mà bổ trợ, tạo nên một lực đẩy cộng hưởng cho cấu trúc và động lực tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới.
Vai trò cộng hưởng của hai Nghị quyết
Nghị quyết 79-NQ/TW nhấn mạnh kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và duy trì các trụ cột chiến lược của nền kinh tế như an ninh năng lượng, tài chính - ngân hàng và kết cấu hạ tầng quan trọng. Trọng tâm của nghị quyết không chỉ là duy trì quy mô, mà là nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước (DNNN).
Văn kiện đặt ra những mục tiêu cụ thể và tham vọng: đến năm 2030, có khoảng 50 DNNN lọt vào Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á, và ít nhất 1-3 doanh nghiệp lọt Top 500 toàn cầu. Đây không đơn thuần là mục tiêu về thứ hạng mà phản ánh yêu cầu nâng tầm năng lực cạnh tranh, quản trị và đổi mới sáng tạo của khu vực kinh tế nhà nước trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.
Nghị quyết 79 đồng thời yêu cầu DNNN tiên phong trong chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ mới và dẫn dắt các ngành kinh tế nền tảng, qua đó tạo “xương sống” cho nền kinh tế và giảm thiểu rủi ro trước các cú sốc bên ngoài.
Nếu Nghị quyết 79 củng cố trụ cột ổn định thì Nghị quyết 68-NQ/TW tạo ra bước ngoặt trong tư duy phát triển khi lần đầu khẳng định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân. Đây không chỉ là sự thay đổi về cách gọi, mà là sự tái định vị vai trò của khu vực tư nhân trong cấu trúc tăng trưởng dài hạn.
Nghị quyết 68 đặt ra các chỉ tiêu rõ ràng đến năm 2030: khoảng 2 triệu doanh nghiệp tư nhân hoạt động, đóng góp 55-58% GDP, tạo việc làm cho 84–85% lực lượng lao động và đóng góp 35-40% tổng thu ngân sách nhà nước. Tầm nhìn đến năm 2045 còn tham vọng hơn, với mục tiêu có ít nhất 3 triệu doanh nghiệp tư nhân, đóng góp trên 60% GDP.
Nghị quyết 68 mở rộng không gian phát triển và khơi dậy toàn bộ tiềm năng của khu vực kinh tế tư nhân. Ảnh: Hoàng Hà
Quan trọng hơn, Nghị quyết 68 tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn mang tính cấu trúc đã kìm hãm khu vực tư nhân nhiều năm qua, đặc biệt là tiếp cận vốn, đất đai, nguồn lực và cơ hội đầu tư, đồng thời nhấn mạnh bảo vệ quyền tài sản và quyền tự do kinh doanh.
Khi hai nghị quyết cùng thúc đẩy một môi trường cạnh tranh lành mạnh
Một trong những tác động cộng hưởng quan trọng nhất giữa Nghị quyết 79 và 68 là thúc đẩy cải cách thể chế kinh tế theo hướng đồng bộ và nhất quán hơn. Khi kinh tế nhà nước được yêu cầu vận hành theo nguyên tắc thị trường, minh bạch và hiệu quả thì môi trường cạnh tranh chung cũng được cải thiện, tạo điều kiện để khu vực tư nhân phát triển trên nền tảng công bằng.
Ngược lại, sự lớn mạnh của khu vực tư nhân tạo áp lực tích cực buộc DNNN phải đổi mới quản trị, tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao hiệu quả hoạt động. Chính sự tương tác hai chiều này góp phần giảm dần cơ chế “xin – cho”, hạn chế méo mó thị trường và nâng cao niềm tin của nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Hai Nghị quyết cũng phân vai rõ ràng để tối ưu hóa sức mạnh nền kinh tế. Nghị quyết 79 định hướng kinh tế nhà nước tập trung vào những lĩnh vực mà khu vực tư nhân khó hoặc chưa thể tham gia hiệu quả như hạ tầng chiến lược, an ninh năng lượng, tài chính - tiền tệ và các ngành công nghiệp nền tảng. Vai trò này giúp tạo đường băng cho tăng trưởng dài hạn và ổn định.
Song song, Nghị quyết 68 mở rộng không gian cho khu vực tư nhân trong huy động vốn, tiếp cận đất đai, công nghệ và lao động. Khi hai nghị quyết được triển khai đồng bộ, nguồn lực xã hội sẽ được phân bổ hợp lý hơn: kinh tế nhà nước giữ vai trò dẫn dắt và bảo đảm ổn định, còn kinh tế tư nhân phát huy tính linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả trong sản xuất - kinh doanh. Hiệu ứng cộng hưởng này thể hiện rõ nhất trong các mô hình hợp tác công - tư, nơi hai khu vực cùng tham gia đầu tư và phát triển thị trường.
Các Nghị quyết cũng cộng hưởng động lực đổi mới: Từ tăng trưởng chiều rộng sang chiều sâu. Nghị quyết 68 nhấn mạnh khơi dậy tinh thần kinh doanh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất lao động trong khu vực tư nhân. Trong khi đó, Nghị quyết 79 yêu cầu DNNN tiên phong trong ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số và dẫn dắt các ngành mũi nhọn.
Khi hai định hướng này gặp nhau, nền kinh tế có điều kiện hình thành các chuỗi liên kết mới, trong đó DNNN đóng vai trò đầu tàu về công nghệ, tiêu chuẩn và thị trường, còn doanh nghiệp tư nhân tham gia sâu vào sản xuất, dịch vụ và đổi mới sáng tạo. Đây chính là nền tảng để chuyển dịch mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, dựa trên chất lượng và hiệu quả.
Điều kiện để lực đẩy cộng hưởng phát huy hiệu quả
Dù tạo ra kỳ vọng lớn, tác động cộng hưởng của Nghị quyết 79-NQ/TW và Nghị quyết 68-NQ/TW chỉ thực sự phát huy khi được triển khai nhất quán và đồng bộ. Điều này đòi hỏi hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao năng lực thực thi chính sách và tăng cường phối hợp giữa các cấp, các ngành.
Quan trọng hơn, cần tránh cách hiểu máy móc rằng vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước đồng nghĩa với bao cấp hay ưu ái hành chính, cũng như không tuyệt đối hóa kinh tế tư nhân mà bỏ qua yêu cầu ổn định và định hướng dài hạn. Chỉ khi cả hai khu vực cùng vận hành theo nguyên tắc thị trường, dưới sự điều tiết hiệu quả của Nhà nước, lực đẩy cộng hưởng mới bền vững.
Nhìn từ Nghị quyết 79 và Nghị quyết 68, bức tranh kinh tế Việt Nam hiện lên với hai trụ cột không đối lập mà bổ trợ lẫn nhau, cùng tạo nên một động lực chung cho phát triển. Sự cộng hưởng giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân không chỉ giúp khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực xã hội, mà còn đặt nền móng thể chế vững chắc cho tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
TS. Nguyễn Văn Lộc
TS. Phạm Ngọc Hương Quỳnh
Nguồn VietnamNet : https://vietnamnet.vn/trien-vong-kinh-te-viet-nam-nhin-tu-nghi-quyet-79-va-nghi-quyet-68-2487389.html