Trọn niềm tin theo Đảng

Trọn niềm tin theo Đảng
3 giờ trướcBài gốc
Trọn niềm tin theo Đảng
Ông vẫn thường kể chuyện
ấu thơ tuổi mười lăm
trước mũi tên hòn đạn
sợ chi sự hiểm nghèo
Đánh Pháp rồi đánh Mĩ
luôn xung phong tuyến đầu
xứng danh người cộng sản
dưới lá cờ của Đảng
Bố thường hay kể chuyện
lịch sử bước sang trang
cần cù vun ruộng mật
mênh mông cánh đồng vàng
Bố đã từng đi tới
những miền quê khó khăn
vực dậy cơ sở Đảng
dựng xây nông thôn mới
Vâng lời Bác Hồ dạy
con cố gắng học hành
vinh dự kết nạp Đảng
dưới mái trường mến yêu
Ý đảng thuận lòng dân
thành công trong đổi mới
dân giàu thì nước mạnh
sánh vai cùng năm châu
Chiếc huy hiệu lấp lánh
trên ngực áo quân nhân
bẩy mươi năm tuổi Đảng
ông vẫn luôn sẵn sàng
Bố con mình cùng hứa
noi gương ông thật nhiều
trọn niềm tin theo Đảng
góp sức dựng non sông
Lời bình của Quang Minh
Đọc bài thơ “Trọn niềm tin theo Đảng” của tác giả Trương Anh Sáng, ta thấy đây là bài thơ không cầu kỳ về nghệ thuật, không phô diễn kỹ thuật ngôn từ, nhưng chính ở sự mộc mạc ấy lại ẩn chứa sức nặng tư tưởng, chiều sâu cảm xúc và giá trị nhân văn bền bỉ. Đây là kiểu thơ “viết từ đời sống”, “viết từ ký ức”, “viết từ niềm tin” của các thế hệ người dân Việt Nam đối với Đảng, với đất nước. Ngay từ những câu thơ mở đầu tác giả đã khắc họa điều đó:
“Ông vẫn thường kể chuyện
ấu thơ tuổi mười lăm
trước mũi tên hòn đạn
sợ chi sự hiểm nghèo”
Tác giả đã dựng lên hình tượng người ông – người lính – người cộng sản từ rất sớm, khi “tuổi mười lăm” đã đối diện với “mũi tên hòn đạn”. Đây không chỉ là một chi tiết tự sự, mà là một ký hiệu văn hóa – lịch sử, gợi nhớ đến cả một thế hệ thanh niên Việt Nam trước sự lâm nguy của dân tộc đã “xếp bút nghiên theo việc đao cung” kháng chiến trường kỳ với niềm mong ước cháy bỏng – đem lại hòa bình, độc lập, tự do, ấm no cho dân tộc, cho đất nước, để đất nước không còn sống trong cảnh lầm than, thoát khỏi ách đô hộ của bọn thực dân, đế quốc. Điều đáng chú ý là giọng điệu thơ không bi lụy, không than thở, mà mang sắc thái bình thản, vững vàng. “Sợ chi sự hiểm nghèo” không phải lời nói suông, mà là sự đúc kết của một nhân sinh quan cách mạng: khi lý tưởng đã rõ ràng, hiểm nguy trở nên thứ yếu. Lời thơ ấy gợi cho ta nhớ tới công lao của bao người con nước Việt đã hy sinh vì non sông, đất nước, như: Lượm, Lê Văn Tám, Nông Văn Dền, Võ Thị Sáu, Nguyễn Văn Kiến,…
Trong công cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, người ông ấy đã không phai nhạt ý chí, không từ bỏ lý tưởng của mình:
“Đánh Pháp rồi đánh Mĩ
luôn xung phong tuyến đầu
xứng danh người cộng sản
dưới lá cờ của Đảng”
Bốn câu thơ ngắn, dồn nén cả hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, đồng thời khắc họa phẩm chất tiêu biểu của người đảng viên: xung phong, tuyến đầu, xứng danh. Ở đây, Đảng không hiện ra như một khái niệm trừu tượng, mà là lá cờ dẫn đường, là nơi người chiến sĩ gửi gắm niềm tin và danh dự. Dưới lá cờ của Đảng, người cộng sản luôn gương mẫu đi đầu trong mọi hoạt động, mọi hoàn cảnh, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình và lý tưởng của Đảng. Một điểm rất đáng trân trọng trong bài thơ là không dừng lại ở hào quang chiến tranh, mà tiếp tục theo bước người cha khi đất nước “bước sang trang”:
“Bố thường hay kể chuyện
lịch sử bước sang trang
cần cù vun ruộng mật
mênh mông cánh đồng vàng”
Hình ảnh “ruộng mật”, “cánh đồng vàng” vừa mang tính hiện thực (sản xuất nông nghiệp), vừa mang ý nghĩa biểu tượng: thành quả của hòa bình, của lao động, của mồ hôi sau bom đạn. Ở đây, người cộng sản không rời bỏ nhân dân sau chiến tranh, mà tiếp tục hóa thân thành người nông dân cần mẫn, đúng với tinh thần “Đảng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ”. Cách kể chuyện “bố thường hay kể” khiến lịch sử trở nên gần gũi, truyền đời, không khô cứng. Đặc biệt xúc động là những câu thơ:
“Bố đã từng đi tới
những miền quê khó khăn
vực dậy cơ sở Đảng
dựng xây nông thôn mới”
Đây là hình ảnh rất thời sự, gắn với công cuộc xây dựng Đảng ở cơ sở, xây dựng nông thôn mới – một trong những chủ trương lớn của Đảng trong thời kỳ đổi mới. Bài thơ vì thế không chỉ hoài niệm quá khứ, mà đối thoại trực tiếp với hiện tại, cho thấy người đảng viên suốt đời không ngừng cống hiến, dù ở chiến trường hay đời thường. Một trong những giá trị nhân văn sâu sắc nhất của bài thơ là mạch truyền thừa lý tưởng:
“Vâng lời Bác Hồ dạy
con cố gắng học hành
vinh dự kết nạp Đảng
dưới mái trường mến yêu”
Nếu người ông, người cha là thế hệ cầm súng, thì người con là thế hệ cầm bút, cầm tri thức. Sự tiếp nối ấy diễn ra tự nhiên, không áp đặt, không hô khẩu hiệu. Lý tưởng cách mạng được truyền qua tấm gương sống, qua lời kể, qua nhân cách người cha. Chi tiết “kết nạp Đảng dưới mái trường” mang ý nghĩa rất đẹp: Đảng hiện diện trong không gian giáo dục, trí tuệ, tương lai. Điều này cho thấy niềm tin vào Đảng không chỉ bắt nguồn từ chiến tranh, mà còn được nuôi dưỡng bằng tri thức, bằng sự rèn luyện bản thân trong thời bình.
Bài thơ đạt đến chiều sâu lý luận rõ nét ở đoạn:
“Ý đảng thuận lòng dân
thành công trong đổi mới
dân giàu thì nước mạnh
sánh vai cùng năm châu”
Đây là đoạn mang đậm màu sắc chính luận, nhưng không hề khô cứng, bởi nó được đặt trong mạch cảm xúc gia đình – cá nhân. Tác giả đã khéo léo lồng ghép tư tưởng lớn của Đảng vào dòng cảm nhận riêng, làm cho lý luận trở nên mềm mại, dễ thấm. Cụm từ “ý đảng thuận lòng dân” chính là hạt nhân tư tưởng của bài thơ. Mọi thành công của cách mạng, của đổi mới, của hội nhập quốc tế đều bắt nguồn từ sự thống nhất ấy. Bài thơ vì thế không chỉ ca ngợi Đảng, mà còn khẳng định bản chất nhân văn, vì dân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hình ảnh giàu sức gợi nhất ở phần cuối bài thơ là:
“Chiếc huy hiệu lấp lánh
trên ngực áo quân nhân
bẩy mươi năm tuổi Đảng
ông vẫn luôn sẵn sàng”
Chiếc huy hiệu Đảng – một vật nhỏ bé – lại mang trọng lượng tinh thần khổng lồ. Nó kết tinh cả một đời người: chiến đấu, cống hiến, hy sinh, trung thành. “Bảy mươi năm tuổi Đảng” không chỉ là con số thời gian, mà là thước đo của lòng son sắt. Cụm từ “vẫn luôn sẵn sàng” cho thấy tinh thần cách mạng không hề lão hóa theo tuổi tác. Đó là phẩm chất cao đẹp của người cộng sản chân chính.
Bài thơ khép lại bằng lời hứa thiêng liêng:
“Bố con mình cùng hứa
noi gương ông thật nhiều
trọn niềm tin theo Đảng
góp sức dựng non sông”
Đây là đoạn kết đầy cảm xúc và trách nhiệm, nơi quá khứ – hiện tại – tương lai gặp nhau. Niềm tin theo Đảng không phải là khẩu hiệu, mà là hành động cụ thể, là “góp sức dựng non sông” trong mỗi vị trí, mỗi hoàn cảnh. Cách dùng đại từ “bố – con – ông” tạo nên trục ba thế hệ, cho thấy cách mạng Việt Nam là sự nghiệp liên tục, bền bỉ, được trao truyền bằng máu, mồ hôi, trí tuệ và niềm tin.
Có thể thấy, bài thơ “Trọn niềm tin theo Đảng” sử dụng ngôn ngữ giản dị, giàu tính kể. Chính sự “không trau chuốt” ấy lại tạo nên độ chân thực và sức lay động. Đây là kiểu thơ “chân phương mà bền”, phù hợp với đề tài chính trị – lịch sử – gia đình góp phần khơi dậy lòng biết ơn các thế hệ đi trước, củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và gợi mở trách nhiệm của thế hệ hôm nay trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bài thơ “Trọn niềm tin theo Đảng” là bài thơ đẹp về nhân cách, về lịch sử sống, về niềm tin được thử thách qua thời gian. Qua hình tượng người ông – người cha – người con -người đảng viên, bài thơ khẳng định một chân lý giản dị mà sâu sắc: Đảng mạnh khi có những con người sống trọn niềm tin với Đảng, với dân tộc. Đó chính là giá trị bền lâu nhất của bài thơ – giá trị khiến nó vượt ra ngoài trang giấy, để sống trong ký ức, trong gia đình và trong mạch chảy chung của văn hóa – lịch sử Việt Nam.
Quang Minh
Nguồn VHPT : https://vanhoavaphattrien.vn/tron-niem-tin-theo-dang-a31759.html