Gã nghèo say nằm không biết trong chéo áo có ngọc quý, khi tỉnh dậy đi lang thang xứ này xứ nọ, làm kẻ xin ăn đói khổ.
Về sau, người bạn thân gặp lại bèn nói, “ngày xưa tôi có tặng cho anh một hạt châu quý, giá trị muôn lượng, nếu lấy ra sử dụng anh sẽ là một cự phú. Tại sao không dùng mà đến giờ vẫn còn đói rét lang thang?”. Người bạn chỉ hạt châu trong chéo áo, nhận ra rồi, người đói rét lang thang kia hết nghèo khổ.
Hình ảnh người bạn nghèo say rượu là tượng trưng cho chúng ta, vốn có hạt châu vô giá, chỉ vì si mê không biết mà cam chịu nghèo khổ. Anh chàng say từ nghèo tới giàu chừng bao lâu? Vừa nhớ ra mình có hạt châu thì tuy còn mặc áo rách nhưng đã là người giàu. Kinh Pháp hoa là Đại thừa đốn ngộ, chỉ cần chúng ta nhận ra thì giác ngộ. Giữa nhớ và quên bao lâu? Chỉ trong tích tắc chuyển mê thành ngộ, trong tích tắc liền rõ nghèo thành giàu, không cách xa chút nào. Cái cao siêu của kinh Pháp hoa ở chỗ đó, không phải ở chỗ tụng nhiều có phước.
Đó cũng là hình ảnh của ngài Huệ Hải khi gặp Mã Tổ. Trước khi đến gặp, ngài thấy mình thiếu thốn, cần cầu Phật pháp. Nhưng nghe Mã Tổ nói “Kho báu nhà mình không đoái hoài, chạy đi tìm cầu cái gì?”. Ngài Huệ Hải hỏi “Cái gì là kho báu của Huệ Hải?”. Đáp “Cái mà ông hỏi ta đó!”, ngài liền nhận ra.
Chúng ta tu rất sung sướng, đang nghèo khổ mà chỉ một phen nhận ra trở thành giàu có, cả đời không thiếu thốn. Người xưa được như vậy vì các ngài nhận ra, còn chúng ta vì quên nên lang thang luân hồi, đến bây giờ cũng còn quên. Tuy có tỉnh một chút, trở về với đạo, mặc áo ca-sa mà cũng còn thấy nghèo, thấy thiếu nên cầu học chỗ này chỗ kia.
Bây giờ nếu biết rõ mình có hạt châu trong chéo áo thì dù bị người khinh chê, mình vẫn không buồn tủi. Một phen nhận rõ rồi thì không còn sợ sệt, không còn lo thiếu thốn. Vì thế tôi cảm thấy vui, thấy mình giàu, tất cả quý vị cũng vậy. Kinh điển Đại thừa nói giữa mê và ngộ nhanh như trở bàn tay. Không tính kể thời gian, nhớ thì ngay đó liền nhớ. Nhớ hạt châu rồi thì không bao giờ nghĩ mình nghèo, nên nói ngộ rồi thì thấy mình là Phật không nghi, không còn làm chúng sanh lang thang.
Nhà Thiền nói mê là chúng sanh, ngộ là Phật. Khi mê thì Phật là chúng sanh, quên mình có hạt châu quý, ngộ thì chúng sanh là Phật, thấy mình không còn nghèo. Tại sao chúng ta không chịu ngộ mà cứ mê hoài? Lỗi tại ai?
Sa-di Cao đến chỗ ngài Dược Sơn. Ngài Dược Sơn hỏi:
- Ta nghe ở Trường An rất náo loạn, ngươi có biết chăng?
Ngài trả lời:
- Nước con an ổn.
Ngài Dược Sơn hỏi:
- Ngươi do xem kinh được, hay do thưa hỏi được?
- Chẳng do xem kinh được, cũng chẳng do thưa hỏi được.
- Có lắm người chẳng xem kinh, chẳng thưa hỏi, sao chẳng được?
- Không phải họ không được, chỉ vì họ không chịu thừa nhận.
Ai cũng có kho báu mà vì không chịu nhận nên mới lang thang. Lỗi tại mình, không phải tại Phật hay tại ai.
Tinh thần nhà Thiền cũng như tinh thần Đại thừa, chỉ cần nhận ra hạt châu nơi mình thì từ đó về sau đi đứng nằm ngồi đều không quên, không bao giờ thấy mình nghèo đói. Ngài Đại An nói với đồ đệ: Cả thảy các ngươi, mỗi người có hòn ngọc lớn vô giá, từ cửa con mắt phóng quang soi sáng núi sông cây cỏ, từ cửa lỗ tai phóng quang nhận lãnh phân biệt tất cả âm thanh lành dữ, sáu cửa ngày đêm thường phóng ánh sáng cũng gọi là phóng quang tam-muội.
Nếu chúng ta trong mọi trường hợp, đi đứng nằm ngồi nói nín… đều nhớ viên ngọc quý của mình hay nhớ được ánh sáng phóng ra sáu cửa, đừng chạy theo sáu trần bên ngoài, đó là tu. Ngài Lâm Tế nói “Tùy duyên tiêu cựu nghiệp, nhậm vận trước y xiêm”. Tùy duyên tiêu nghiệp cũ, hồn nhiên mặc áo xiêm. Chúng ta vẫn sống bình thường như bao nhiêu người, mà những nghiệp cũ dần dần tiêu mòn. Ăn cơm mặc áo hồn nhiên, không lăng xăng suy nghĩ, đó là người giác tỉnh. Chạy theo phân biệt sáu trần, đó là người mê.
Tinh thần nhà Thiền cũng như tinh thần Đại thừa, chỉ cần nhận ra hạt châu nơi mình thì từ đó về sau đi đứng nằm ngồi đều không quên, không bao giờ thấy mình nghèo đói. Ngài Đại An nói với đồ đệ: Cả thảy các ngươi, mỗi người có hòn ngọc lớn vô giá, từ cửa con mắt phóng quang soi sáng núi sông cây cỏ, từ cửa lỗ tai phóng quang nhận lãnh phân biệt tất cả âm thanh lành dữ, sáu cửa ngày đêm thường phóng ánh sáng cũng gọi là phóng quang tam-muội.
Chúng ta còn vọng tưởng quá nhiều, muốn nhớ mà nó cứ quên hoài thì sao? Mình đang đi mà nhớ chuyện năm trên năm dưới thì làm sao tu được đây? Khi đang nhớ việc gì đó, chỉ cần nhắc “đi chỉ là đi”, tự nhiên dừng được niệm lăng xăng. Giả sử đang ngồi chơi mà tâm nhớ lung tung, chúng ta tự nhắc “ngồi chơi chỉ là ngồi chơi”, hoặc khi nấu cơm bửa củi cũng vậy, vừa có ý nghĩ lăng xăng thì nhắc “bửa củi chỉ là bửa củi”... tự nhiên hết lăng xăng. Tu là lúc nào cũng nhắc mình nhớ sống trong cái thấy biết hiện tiền. Cho nên chủ yếu của việc tu là đừng quên. Lỗi ở chỗ quên. Nhớ thì giàu, quên thì nghèo, chừng ấy việc thôi.
Sở dĩ tâm chúng ta bất an vì lầm vọng tưởng lăng xăng là tâm của mình. Khi ngồi thiền cũng lăng xăng, nhớ chuyện này chuyện nọ. Vì vậy, tôi muốn gỡ cái lầm đầu tiên của quý vị, để biết rõ nó là vọng tưởng, không phải tâm. Cho nên chủ trương của tôi là tu biết vọng. Biết vọng thì đã tỉnh hơn một chút. Người thế gian mê mờ cho vọng tưởng là tâm mình, chúng ta tỉnh hơn biết đó là vọng nên không theo, không bị nó lôi dẫn.
Đôi khi chúng ta biết vọng nhưng vọng cứ kéo mình chạy lung tung không dừng thì làm sao đây? Như người có năm bảy trăm đồng cất ở đâu đó rồi quên, tới giờ ngồi thiền cứ nhớ tới nó thì ngồi thiền nổi không? Chính khi nhớ đó, biết là vọng nhưng dừng không được. Có một lối dừng mạnh hơn là tìm vọng. Tìm xem cái vọng này xuất phát từ đâu? Tìm một lúc thấy không có cội rễ thì tự nó mất. Ứng dụng hai pháp hỗ tương nhau, có khi biết vọng có khi tìm vọng. Vọng mạnh quá, dừng không nổi thì tìm nguồn gốc của nó. Như Tổ Huệ Khả tìm tâm, tìm lại thấy nó không có, như thế là an tâm.
Các kinh điển Đại thừa đều dạy như vậy, không phải lối tu của chúng ta mơ hồ. Càng học kinh càng ứng dụng ngay trong cuộc sống, càng thấy rõ ý nghĩa tu sáng tỏ hơn. Tôi thường nói đường lối tu của chúng ta là thiền giáo đồng hành. Giáo là kinh, thiền là tu thiền. Học kinh để rõ được đường lối tu thiền, tu thiền càng sáng tỏ thêm ý kinh. Hai thứ hỗ tương nhau.
Trong khi tu có ba cách. Một là ứng dụng biết vọng thường xuyên, cách này nhẹ nhàng. Thứ hai, cách mạnh hơn là tìm vọng, đó là lúc ngồi thiền. Thứ ba, áp dụng trí Bát-nhã quán thân, cảnh như huyễn. Nhìn ra ngoài thấy các pháp như huyễn, không thật, không vướng mắc nên thư giãn không đau đầu. Thay đổi giữa ba cách tu, hoặc quán như huyễn, hoặc tìm vọng, hoặc biết vọng, ứng dụng linh động, không cố chấp. Khi phóng tâm ra ngoài biết như huyễn một chút, thấy loạn thì bỏ, biết vọng cho yên trở lại. Linh động như vậy thì tu không bị bệnh cũng không buồn. Nếu chỉ tu biết vọng không thì buồn lắm, tu một hồi thấy quạu đeo. Đó là kinh nghiệm tôi thấy rõ.
Tôi rất vui. Vui là vì có ngọc quý và dùng được nên mình giàu, mình giàu và tin rằng mọi người cũng giàu. Tôi chúc tất cả Tăng Ni và Phật tử sang năm mới sẽ thành người cự phú, là con ông trưởng giả, là người có viên ngọc quý vô giá, là người nhận ra kho báu nhà mình, để từ đây về sau khỏi lang thang trong luân hồi sanh tử nữa.
Trưởng lão Hòa thượng Thích Thanh Từ/Báo Giác Ngộ