Từ sau khi đăng ký bản quyền thương hiệu, để sản phẩm đảm bảo an toàn, đạt chất lượng theo tiêu chuẩn, HTX Mì gạo Hùng Lô, phường Vân Phú đã tích cực tham gia các lớp tập huấn chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật theo tiêu chuẩn VietGAP, Global GAP, hoàn thành quy trình sản xuất và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.
Ông Cao Đăng Duy - Giám đốc HTX cho biết: Để tạo được niềm tin cho khách hàng, xây dựng uy tín cho thương hiệu sản phẩm thì việc công khai, minh bạch mọi quy trình sản xuất là yêu cầu bắt buộc đối với thị trường hiện nay. Do đó, HTX rất chú trọng đến việc cung cấp đầy đủ thông tin thông qua việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
Khách hàng chỉ cần sử dụng điện thoại thông minh, quét mã QR sẽ tra được đầy đủ thông tin về sản phẩm mình lựa chọn. Nhờ đó, sản phẩm của HTX ngày càng được người tiêu dùng tín nhiệm, mở rộng được thị trường tiêu thụ, nâng cao thu nhập cho các thành viên. Đồng thời, đây cũng là yếu tố quyết định đến việc sản phẩm của HTX xuất khẩu ra thị trường quốc tế.
Thành viên HTX Mì gạo Hùng Lô, phường Vân Phú chuẩn bị tem nhãn có mã QR trước khi đóng gói sản phẩm.
Những năm gần đây, Phú Thọ có nhiều chuyển biến tích cực trong phát triển vùng cây ăn quả đặc sản, gắn với tiêu chuẩn chất lượng và thị trường xuất khẩu. Nhiều địa phương đã hình thành các vùng sản xuất tập trung gắn với tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, HACCP, ISO... có mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu nông sản đặc sản của vùng trung du Đất Tổ, đồng thời hướng tới mục tiêu xuất khẩu.
Sau hợp nhất, toàn tỉnh có diện tích đất trồng cây ngắn ngày trên 304 nghìn ha, diện tích trồng cây lâu năm (ăn quả) và cây chè đạt hơn 52 nghìn ha. Trên cơ sở quy hoạch vùng sản xuất và đánh giá lợi thế thị trường, tỉnh đã tập trung phát triển các cây ăn quả chủ lực như bưởi, cam, chuối, đồng thời chú trọng bảo tồn, nhân rộng các giống cây đặc sản có giá trị kinh tế cao như bưởi Đoan Hùng, bưởi đỏ Tân Lạc, cam Cao Phong, hồng không hạt Gia Thanh, chuối phấn vàng, chuối tiêu hồng, vải Hùng Long chín sớm, vải PH40...
Không chỉ tại các đô thị lớn, người tiêu dùng ở khu vực nông thôn cũng đã bắt đầu hình thành tư duy truy xuất nguồn gốc khi mua sản phẩm.
Toàn tỉnh hiện có 686 vùng trồng trọt tập trung các sản phẩm chủ lực với tổng diện tích 82,8 nghìn ha, 769 mã số vùng trồng với tổng diện tích 9,7 nghìn ha (trong đó, có 660 mã nội tiêu và 109 mã xuất khẩu). Việc truy xuất nguồn gốc nông sản tại Phú Thọ được thực hiện đồng bộ từ trang trại đến bàn ăn, giúp minh bạch thông tin và nâng cao chất lượng.
Toàn tỉnh hiện có hơn 3.000 sản phẩm nông nghiệp được cấp mã số vùng trồng và gắn tem QR code, tạo lợi thế cạnh tranh cả ở thị trường trong và ngoài nước. Nhờ thực hiện tốt việc quản lý, cấp mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, năm 2025, toàn tỉnh đã xuất khẩu được 185 nghìn tấn nông, lâm sản và thủy sản với giá trị 1,3 nghìn tỷ đồng.
Chị Đỗ Thị Nga ở phường Thanh Miếu chia sẻ: Chỉ cần sử dụng điện thoại thông minh có cài đặt ứng dụng truy xuất nguồn gốc sản phẩm để quét mã là những người tiêu dùng như chúng tôi có thể biết được nguồn gốc, xuất xứ sản phẩm cũng như quy trình để sản xuất ra sản phẩm. Tem truy xuất giúp người tiêu dùng như tôi cảm thấy yên tâm hơn khi sử dụng sản phẩm, nhất là các thực phẩm phục vụ cho bữa ăn hằng ngày.
Đồng chí Nguyễn Trường Giang - Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cho biết: Truy xuất nguồn gốc không chỉ là yêu cầu của thị trường, công cụ để tổ chức lại sản xuất theo hướng bài bản, minh bạch, mà còn góp phần nâng cao giá trị, sức cạnh tranh của nông sản. Đây là hướng đi tất yếu để nông nghiệp của tỉnh phát triển bền vững và hội nhập sâu vào chuỗi cung ứng khu vực, toàn cầu.
Nông sản khi đưa vào hệ thống siêu thị có đầy đủ tem, mã QR tạo niềm tin cho khách hàng, thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và tính minh bạch của nông sản ngày càng khắt khe. Các thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc hay Trung Quốc đều đặt ra những quy định chặt chẽ về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, nhật ký sản xuất, chứng nhận VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ... Nếu không đáp ứng yêu cầu truy xuất rõ ràng, nông sản khó có thể mở rộng thị trường, thậm chí có nguy cơ bị loại khỏi chuỗi cung ứng.
Từ thực tế đó, người nông dân phải thay đổi thói quen canh tác; hợp tác xã, doanh nghiệp tổ chức sản xuất theo chuỗi; cơ quan quản lý tăng cường giám sát bằng dữ liệu số... để xây dựng “lý lịch điện tử” của sản phẩm minh bạch nhằm chinh phục khách hàng.
Quân Lâm