Hàng hóa Việt Nam cần cạnh tranh bằng giá trị chứ không phải số lượng, thông qua chất lượng và câu chuyện gắn với từng sản phẩm”, TS. Huỳnh Thanh Điền, trường Đại học Nguyễn Tất Thành, trao đổi với Kinh tế Sài Gòn.
Áp tiêu chuẩn sẽ tạo động lực
KTSG: Với việc ký kết nghị định thư xuất khẩu bưởi và chanh sang Trung Quốc, hai loại trái cây này của Việt Nam sẽ được xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc, nâng số loại rau quả hiện diện chính ngạch tại thị trường này lên con số 16. Đặt trong bức tranh chung về thương mại hai chiều Việt Nam - Trung Quốc, ông bình luận như thế nào về sự kiện này? Liệu một tư duy mới và một phương thức tiếp cận thị trường Trung Quốc mới đã thực sự hình thành?
- TS. Huỳnh Thanh Điền: Trong thương mại quốc tế, về nguyên tắc, hàng hóa xuất khẩu phải minh bạch về nguồn gốc, xuất xứ, đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng với sản phẩm, cùng các tiêu chí khác liên quan tới lao động, môi trường... tùy thuộc từng thị trường nhập khẩu.
Nói vậy để thấy, việc Việt Nam và Trung Quốc ký kết các nghị định thư về xuất khẩu rau, củ, quả là một câu chuyện bình thường, theo đúng các thông lệ quốc tế.
Vậy nên, câu hỏi đặt ra là từ trước tới nay, tại sao chúng ta chưa làm như vậy? Đây là một đặc điểm của mối quan hệ giao thương giữa Việt Nam và quốc gia láng giềng. Trung Quốc là một thị trường vô cùng lớn. Trước đây, thị trường này rất dễ tính.
Đường biên giới cũng như các chính sách biên mậu giữa hai nước tạo thông thoáng tối đa cho hoạt động giao thương tiểu ngạch. Đa phần rau, củ, quả xuất khẩu của Việt Nam là sang Trung Quốc, và do các chính sách kiểm soát dễ dãi, từ trước tới nay, lối làm ăn vẫn là người nông dân trồng, thương lái thu gom đại trà rồi đưa ra cửa khẩu, dẫn đến tình trạng có nhiều thời điểm hàng hóa dồn về ồ ạt, thông quan chậm hoặc một vài lô hàng hóa có vấn đề ảnh hưởng chung tới toàn ngành hàng.
Chanh - trái cây chính ngạch được xuất khẩu sang Trung Quốc.
Tới thời điểm này, Trung Quốc không còn là một thị trường dễ tính như trước nữa, thậm chí, họ đang nổi lên như một thị trường nhập khẩu lớn, chất lượng cao.
Việc ký kết các nghị định thư về xuất khẩu rau, củ, quả giữa hai nước, bao gồm quy định rõ ràng về mã số vùng trồng, quy trình sản xuất, các yêu cầu về phân loại, kiểm dịch... và yêu cầu giám sát từ phía Việt Nam với các sản phẩm xuất khẩu nằm trong xu hướng nêu trên.
Các hộ trồng trọt, nếu đáp ứng các điều kiện xuất khẩu sẽ thuận lợi tiếp cận thị trường Trung Quốc, bán được nhiều và giá cao, như trường hợp của sầu riêng. Ngược lại, nông sản sẽ không xuất sang được thị trường lớn Trung Quốc và người nông dân sẽ gặp khó khăn.
Nghĩa là, với các loại rau, củ, quả xuất khẩu chính ngạch và có nghị định thư, người trồng buộc phải thay đổi lề lối làm việc, phải đăng ký mã số vùng trồng, tham gia vào các hợp tác xã để chuẩn hóa trong quá trình trồng trọt, chăm sóc, đóng gói và đáp ứng được các đòi hỏi về chất lượng cũng như số lượng xuất khẩu.
Đây vừa là áp lực vừa là động lực để người nông dân triệt để thay đổi lề lối làm ăn, chuẩn hóa đầu ra của sản phẩm, hướng tới sự ổn định và bền vững của ngành hàng trên các thị trường trong nước và quốc tế, chứ không riêng với thị trường Trung Quốc.
KTSG: Theo ông, tư duy mới sẽ giúp hàng hóa, đặc biệt là nông sản Việt Nam, tiếp cận ổn định thị trường Trung Quốc như thế nào?
- Lâu nay, có một vòng luẩn quẩn cứ lặp đi lặp lại với nông sản Việt Nam. Thương lái gom hàng trôi nổi giá thấp và xuất khẩu qua biên giới. Bà con nông dân làm theo tiêu chuẩn cao không thể tồn tại, do đầu ra phụ thuộc vào thương lái, lại quay lại cách làm cũ.
Việc chuyển đổi sản xuất theo các tiêu chuẩn quốc tế, khuyến khích nông dân vào các hợp tác xã để áp dụng các phương thức trồng trọt, chăn nuôi hiện đại hơn... rất chật vật.
Tình thế hiện tại đã rất khác. Chúng ta buộc phải chuyển đổi. Khi đã hình thành được các chuẩn mực trong quy trình sản xuất, chế biến và bảo quản sau thu hoạch, hàng hóa nông sản Việt Nam sẽ thuận lợi sang thị trường Trung Quốc.
Trong trường hợp có những biến động không mong muốn ở thị trường này, việc điều chỉnh các tiêu chuẩn cho phù hợp với các thị trường xuất khẩu khác có thể dễ dàng thực hiện, đặc biệt khi người trồng đã có thói quen sản xuất theo bộ tiêu chuẩn hàng hóa. Vậy nên, ngoài sự ổn định đạt được do chất lượng hàng hóa, tính chủ động của hàng hóa nông sản Việt Nam cũng gia tăng.
Để bình đẳng trong giao thương với mọi đối tác
KTSG: Sự chủ động đó đồng thời sẽ tạo cơ hội hiện thực hóa ý tưởng, cũng là mong muốn của nhiều chuyên gia, thương mại bền vững và bình đẳng hơn với Trung Quốc. Ông suy nghĩ như thế nào về nội hàm của ý tưởng này?
- Trong quan hệ thương mại toàn cầu, song phương, đặc biệt giữa các thị trường khác nhau về quy mô, trình độ, kỹ năng... sản xuất, bình đẳng trong giao thương chắc chắn không phải là sự bình đẳng về số lượng. Bình đẳng ở đây, thứ nhất, là trong vấn đề phân vai.
Phía đối tác, bao gồm cả Trung Quốc, có ưu thế trong lĩnh vực, ngành hàng nào thì họ sẽ phát huy thế mạnh của họ. Việt Nam có thể làm được gì thì Việt Nam làm.
Thứ hai và cũng vô cùng quan trọng là bình đẳng về mặt tiêu chuẩn. Các thị trường nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam áp đặt tiêu chuẩn nào với hàng hóa Việt Nam thì Việt Nam cũng xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn tương tự với hàng hóa xuất khẩu của họ.
Nếu để hàng hóa chất lượng không cao, cạnh tranh bằng giá rẻ với hàng hóa nội địa, các doanh nghiệp Việt Nam có thể sẽ bị thua thiệt ngay trên sân nhà.
Tóm lại, bình đẳng là không bên nào làm khó bên nào, không đòi hỏi quá đáng từ đối tác, tạo mối quan hệ cộng sinh để nền kinh tế của cả hai tốt lên.
KTSG: Vậy làm thế nào để hàng hóa Việt Nam có thể khai thác tốt hơn thị trường nước láng giềng? Ông đánh giá như thế nào về tiềm năng chưa khai thác hết của các sản phẩm đến từ Việt Nam tại thị trưởng tỉ dân?
- Đầu tiên và trước hết là sự thay đổi về tư duy thị trường. Thứ nhất, thị trường Trung Quốc đã phát triển cả về quy mô, chất lượng và vẫn đang tiếp tục mở rộng trên cả hai hướng này vì nền kinh tế nước này vẫn đang trên con đường cạnh tranh ngôi vị số 1 thế giới với Mỹ.
Đây là thị trường đầu tiên cần nghĩ tới. Nông sản Việt Nam phù hợp với thị trường này, đã tạo dựng được độ nhận diện nhất định và được người dân của họ ưa thích. Do đặc điểm địa lý, chi phí logistics cạnh tranh so với nhiều đối thủ cạnh tranh. Dư địa của hàng hóa nông, lâm, thủy sản của Việt Nam tại thị trường Trung Quốc rất lớn.
Khi đã xác định như vậy, tư duy sản xuất hàng hóa của chúng ta phải thay đổi. Hàng hóa Việt Nam phải cạnh tranh dựa trên lợi thế so sánh chứ không dựa trên lợi thế tuyệt đối. Chúng ta sẽ khó chiến thắng ở thị trường này nếu cạnh tranh bằng số lượng và giá.
Cần nghĩ tới cạnh tranh bằng giá trị, thông qua chất lượng hàng hóa và câu chuyện gắn với từng sản phẩm. Nhật Bản đã rất thành công nhờ chiến lược này, với thương hiệu bò Kobe hay các loại rau quả như táo, xoài, dưa lưới...
Việt Nam cần định vị như vậy và theo đuổi mục tiêu này một cách bài bản. Khi đó, chúng ta không chỉ bán nông sản mà có thể mở rộng các ngành hàng bán cho Trung Quốc, cũng như các thị trường phát triển khác.
Hoàng Hạnh