Nghị định số 110/2026/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật bảo vệ môi trường về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu (EPR).
Nghị định 110/2026/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật bảo vệ môi trường về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu (EPR).
Theo quy định, doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu phải thực hiện tái chế sản phẩm, bao bì theo tỷ lệ và quy cách bắt buộc khi đưa ra thị trường Việt Nam. Trường hợp ủy thác nhập khẩu, đơn vị chịu trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa sẽ phải thực hiện nghĩa vụ tái chế. Điều này làm rõ trách nhiệm pháp lý, hạn chế tình trạng “né” nghĩa vụ môi trường.
Theo Nghị định, bao bì quy định trên là bao bì thương phẩm (bao gồm cả loại bao bì trực tiếp và bao bì ngoài) theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa của sản phẩm, hàng hóa sau đây: thực phẩm theo quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm (trừ kẹo cao su); mỹ phẩm theo quy định của Chính phủ về điều kiện sản xuất mỹ phẩm; thuốc theo quy định của pháp luật về dược; phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y theo quy định của pháp luật về phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y; xà phòng, chất tẩy rửa, làm bóng và chế phẩm vệ sinh dùng trong nông nghiệp, y tế và hoạt động sinh hoạt; xi măng.
Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định một số trường hợp được miễn trách nhiệm tái chế, nhà sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm, bao bì để xuất khẩu, tạm nhập, tái xuất hoặc sản xuất, nhập khẩu cho mục đích nghiên cứu, học tập, thử nghiệm theo quy định tại khoản 1 điều 54 Luật Bảo vệ môi trường; nhà sản xuất, nhập khẩu có tổng doanh thu từ các sản phẩm quy định ở trên dưới 30 tỷ đồng/năm,... Tuy nhiên, về dài hạn, chính sách vẫn hướng tới mở rộng phạm vi áp dụng nhằm nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp.
Nghị định quy định cụ thể về tỷ lệ tái chế bắt buộc. Tỷ lệ tái chế sẽ được điều chỉnh tăng theo chu kỳ 3 năm một lần, với mức tăng không quá 10% mỗi lần. Lần điều chỉnh đầu tiên dự kiến vào năm 2029. Cơ chế này giúp doanh nghiệp có thời gian thích nghi, đồng thời tạo áp lực nâng cao hiệu quả tái chế theo lộ trình.
Doanh nghiệp có thể lựa chọn nhiều hình thức thực hiện trách nhiệm tái chế như tự tái chế, thuê đơn vị tái chế hoặc ủy quyền cho tổ chức chuyên trách. Điều này tạo sự linh hoạt, phù hợp với năng lực và điều kiện của từng doanh nghiệp. Tuy nhiên, tất cả các đơn vị tham gia tái chế đều phải đáp ứng yêu cầu về giấy phép môi trường theo quy định.
Bên cạnh quy định bắt buộc, Nghị định cũng thiết lập cơ chế hỗ trợ tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động tái chế. Theo đó, các đơn vị tái chế hoặc tổ chức trách nhiệm tái chế có thể đề nghị hỗ trợ kinh phí dựa trên khối lượng sản phẩm, bao bì đã tái chế đạt chuẩn.
Giá trị tối đa của mỗi gói hỗ trợ được quy định rõ, dao động từ 10 tỷ đến 20 tỷ đồng tùy theo nhóm sản phẩm. Quy trình xét duyệt hỗ trợ được Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hàng năm, với mốc thời gian cụ thể. Trước ngày 1-6, cơ quan quản lý sẽ công bố các gói hỗ trợ; trước ngày 1-7, doanh nghiệp nộp hồ sơ và trong vòng 25 ngày làm việc sau đó sẽ hoàn tất việc xét duyệt. Sau đó, kết quả sẽ được công bố công khai.
Nếu đơn vị được hỗ trợ không ký hợp đồng trong thời hạn quy định gói hỗ trợ sẽ bị hủy và không được tham gia trong 5 năm tiếp theo…
Đáng chú ý, từ năm 2027, trách nhiệm tái chế sẽ mở rộng sang phương tiện giao thông đường bộ, tạo áp lực chuyển đổi công nghệ và mô hình sản xuất. Việc triển khai EPR được kỳ vọng không chỉ giảm thiểu chất thải mà còn hình thành chuỗi giá trị tái chế, góp phần phát triển kinh tế bền vững.
Là quốc gia có độ mở kinh tế lớn, phụ thuộc mạnh vào xuất khẩu, Việt Nam đang chịu tác động trực tiếp từ “luật chơi xanh” toàn cầu.
Các chuyên gia đánh giá, tại Việt Nam, khung pháp lý về EPR ngày càng được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, minh bạch và khả thi hơn, tạo điều kiện để chuyển hóa trách nhiệm của doanh nghiệp thành các hoạt động cụ thể trong thực tiễn.
TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Giám đốc Công ty TNHH Dịch vụ và Kỹ thuật Môi trường Bảo Châu, cho rằng, ngành tái chế đang đứng trước cơ hội lớn nhưng cũng đầy thách thức khi chuyển đổi. Việc quản lý các loại chất thải đặc thù như bao bì thuốc bảo vệ thực vật hiện vẫn là một “điểm nghẽn” kinh niên.
Và dù người nông dân đã bắt đầu làm quen với việc rửa bao bì hay đục thủng để tránh tái sử dụng, nhưng theo bà vẫn còn lượng bao bì khá lớn bị vứt bỏ tùy tiện do hạn chế về hạ tầng thu gom và kinh phí xử ánh
Nghị định 110/2026/NĐ-CP đi vào thực thi, là lời giải cho những điểm nghẽn trên, bởi Nghị định sẽ không chỉ là một văn bản pháp lý, mà là niềm tin để những doanh nghiệp tiếp tục kiên trì trên con đường tăng trưởng xanh. Một tương lai không rác thải chôn lấp sẽ không còn là xa vời nếu mỗi mắt xích trong chuỗi giá trị đều hiểu rõ và thực hiện tốt trách nhiệm của mình.
Hồng Hương