Trong 4 tháng đầu năm 2026, hoạt động nhập khẩu thép của Việt Nam ghi nhận sự chuyển dịch đáng kể về cơ cấu thị trường. Theo số liệu thống kê, tổng lượng thép nhập khẩu đạt 5,04 triệu tấn với trị giá 3,61 tỷ USD. So với cùng kỳ năm 2025, khối lượng nhập khẩu giảm nhẹ 1,45% nhưng trị giá lại tăng 0,15% do biến động giá trên thị trường quốc tế.
Biến động giá và tình hình nhập khẩu trong tháng 4
Tính riêng tháng 4/2026, Việt Nam đã nhập khẩu 1,43 triệu tấn thép, đạt trị giá 1,01 tỷ USD. So với tháng trước đó, lượng thép nhập khẩu tăng 14,85% và trị giá tăng 13,08%. Nếu so sánh với cùng kỳ năm 2025, các chỉ số này lần lượt tăng 3,64% về lượng và 4,69% về trị giá.
Một điểm đáng lưu ý là giá thép nhập khẩu trung bình trong 4 tháng đầu năm 2026 đã đạt mức 716 USD/tấn, tăng 1,63% so với cùng kỳ năm ngoái. Sự gia tăng này là yếu tố chính giúp kim ngạch nhập khẩu giữ được đà tăng trưởng nhẹ dù tổng khối lượng hàng về có xu hướng giảm.
Sự dịch chuyển cơ cấu thị trường: Trung Quốc thu hẹp, ASEAN tăng trưởng
Trung Quốc vẫn duy trì vị thế là nhà cung cấp sắt thép lớn nhất cho Việt Nam nhờ ưu thế về giá và danh mục sản phẩm đa dạng. Tuy nhiên, tỷ trọng từ thị trường này đã sụt giảm mạnh từ 58,07% trong 4 tháng đầu năm 2025 xuống còn 44,56% trong cùng kỳ năm 2026. Cụ thể, sản lượng nhập khẩu từ Trung Quốc đạt 2,25 triệu tấn, trị giá 1,52 tỷ USD, giảm lần lượt 24,38% về lượng và 19,08% về trị giá.
Ngược lại, khu vực ASEAN đang trở thành nguồn cung quan trọng với mức tăng trưởng ấn tượng. Lượng nhập khẩu từ khu vực này đạt 658,65 nghìn tấn, tương đương 714,45 triệu USD, tăng 40,98% về lượng so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, Indonesia đóng vai trò chủ đạo khi chiếm tới 87,95% tổng lượng thép nhập khẩu từ ASEAN, đạt 579,26 nghìn tấn. Bên cạnh đó, các thị trường khác như Malaysia và Thái Lan cũng ghi nhận mức tăng mạnh.
Các nguồn cung thép chất lượng cao và sự bùng nổ từ Ấn Độ
Nhật Bản và Hàn Quốc tiếp tục là hai đối tác ổn định cung cấp các dòng thép chất lượng cao phục vụ ngành công nghiệp và chế tạo máy. Trong khi nhập khẩu từ Nhật Bản giảm 22,65% về lượng do áp lực tăng giá (tăng 5,78%), thì thị trường Hàn Quốc lại có sự tăng trưởng 8,18% về khối lượng nhờ lợi thế cạnh tranh về chất lượng.
Đặc biệt, Ấn Độ đã nổi lên như một hiện tượng trong 4 tháng đầu năm 2026. Nhập khẩu sắt thép từ quốc gia này đạt 601,48 nghìn tấn, tăng đột biến 12.083,09% về lượng và 2.034,47% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Sự xuất hiện của nguồn cung giá rẻ từ Ấn Độ đã góp phần đa dạng hóa thị trường và tạo áp lực cạnh tranh lên các đối tác truyền thống.
Ngoài ra, thị trường EU dù quy mô còn nhỏ nhưng cũng ghi nhận mức tăng trưởng 216,35% về lượng, tập trung vào các dòng thép hợp kim đặc chủng và thép kỹ thuật cao từ Bỉ, Hà Lan, Pháp và Thụy Điển phục vụ các ngành cơ khí chính xác và năng lượng.
Một số thị trường nhập khẩu thép vào Việt Nam 4 tháng đầu năm 2026
Tuệ Nhân