Dòng suối ở Xuân Giang (xã Xuân Giang, Tuyên Quang) quanh năm trong vắt, len lỏi dưới tán rừng già, chảy qua những ghềnh đá phủ rêu xanh mướt và mang theo cái lạnh thanh khiết của miền sơn cước.
Với người Tày nơi đây, dòng suối không chỉ tưới mát ruộng nương, canh tác trồng trọt mà còn cất giữ một "báu vật" của núi rừng đó là rêu đá, tiếng Tày được gọi là "mò quẹ".
Rêu đá là món ăn quen thuộc đã có từ lâu tại vùng cao xứ Tuyên. Ảnh: Khánh Linh
Không chỉ xuất hiện ở xã Xuân Giang, rêu đá còn gắn bó với đời sống của nhiều cộng đồng người Tày tại vùng cao xã Chiêm Hóa (Tuyên Quang).
Trong ký ức của nhiều người dân miền sơn cước xã Chiêm Hóa, đây từng là nguồn thực phẩm giúp bà con cầm cự qua những giai đoạn thiếu đói, mất mùa năm xưa.
Nhiều người già trong bản vẫn vẹn nguyên ký ức về những ngày thơ bé theo chân người lớn xuống suối xúc rêu về ăn thay cơm. Với họ, rêu đá không đơn thuần là món ăn dân dã mà còn là nguồn sống đã giúp cả bản làng đi qua những năm tháng đói khổ lầm than.
“Từ nhỏ, tôi đã thấy bà nội rồi bố mẹ ra suối lấy rêu. Hồi đó ruộng ít, gạo thiếu, nhà nào cũng dùng rêu độn cơm. Nhờ thức quà ấy mà người dân vẫn sống khỏe, đi rừng cả ngày không biết mệt”, một cụ cao niên trong bản bồi hồi kể lại.
Đây là món ăn từng cứu đói cho người dân, nay trở thành đặc sản được nhiều du khách săn đón. Ảnh: Khánh Linh
Các bậc cao niên ở xã Chiêm Hóa vẫn thường kể cho con cháu nghe về nạn đói năm xưa, khi nhiều nơi người chết đói nằm la liệt ven đường, dân bản ở xã Chiêm Hóa vẫn kiên cường cầm cự nhờ những dòng suối đầy ắp rêu xanh. Vì lẽ đó, rêu đá trong mắt đồng bào Tày được trân trọng như “lộc trời” ban tặng cho vùng cao.
Không chỉ hiện diện trong mâm cơm thường nhật, rêu đá còn thấm đượm trong phong tục và đời sống tâm linh bản địa. Vào những dịp cầu mùa hay cúng lễ, nhiều gia đình vẫn thành kính nhắc đến “thần rêu” với mong cầu mưa thuận gió hòa, cuộc sống ấm no.
Theo quan niệm truyền thống, khi cha mẹ qua đời, con cháu phải kiêng ăn rêu suốt một tháng. Đồng bào nơi đây ví lớp rêu mềm mại dưới lòng suối như mái tóc của người đã khuất nên việc dùng rêu trong thời gian tang chế là điều tối kỵ.
Theo tìm hiểu, rêu đá chỉ sinh trưởng ở những khúc nước sạch, dòng chảy đều và lạnh sâu quanh năm. Khi mùa rêu non về, người dân lại mang gùi xuống suối từ tinh mơ, tỉ mẩn gỡ từng lớp rêu bám trên đá, nhẹ tay để không làm đứt gốc giữ cho mầm xanh tiếp tục sinh sôi.
Việc sơ chế đòi hỏi sự kỳ công, rêu sau khi làm sạch sẽ được trộn với gia vị mang đậm hương vị núi rừng (mắc khén, hạt dổi...). Ảnh: Khánh Linh
Quá trình sơ chế rêu đòi hỏi sự kỳ công, rêu sau khi mang về phải nhặt sạch lá mục, cát sỏi, rồi vò rửa nhiều lần cho sạch nhớt. Xưa kia, người dân thường dùng đá tảng đập nhẹ và xả nước liên tục để rũ bỏ hoàn toàn lớp cặn bẩn bám sâu bên trong.
Sau khi làm sạch, rêu được trộn cùng mắc khén, hạt dổi, sả, hẹ và các loại gia vị đặc trưng của núi rừng. Từ nguyên liệu thô sơ này, người Tày đã chế biến thành nhiều món như canh rêu, rêu xào, rêu hấp... nhưng đậm đà và gây thương nhớ nhất vẫn là rêu nướng trên bếp than hồng.
Rêu được gói ghém cẩn thận trong lá dong rồi đặt lên bếp lửa, khi lớp lá bên ngoài sém nhẹ, mùi thơm nồng đượm của rêu quyện cùng vị cay nồng của mắc khén bắt đầu lan tỏa khắp gian nhà sàn. Giữa cái se lạnh của vùng cao, tiếng than nổ tí tách càng khiến hương vị món ăn thêm phần đặc biệt.
Rêu được nướng thật kỹ cho đến khi nước bên trong rút hết, khi ăn sẽ có mùi thơm đặc trưng và bùi. Ảnh: Khánh Linh
Người dân địa phương chia sẻ, rêu ngon nhất khi được nướng kỹ cho đến khi nước bên trong rút hết, chỉ còn lại vị bùi ngậy và hương thơm đặc trưng của suối nguồn. Đến nay, món ăn này vẫn là phong vị không thể thiếu trong các dịp cưới hỏi, lễ Tết của bản làng.
Những năm gần đây, cùng với cảnh quan hoang sơ và bản sắc văn hóa độc đáo, rêu đá đã trở thành trải nghiệm ẩm thực thu hút du khách khi đến với vùng cao Tuyên Quang. Nhiều người tìm về đây chỉ để được ngồi bên bếp lửa bập bùng, thưởng thức món ăn từng nuôi sống cả một cộng đồng qua cơn đói.
Chị Nguyễn Thu Hằng, một du khách từ Thái Nguyên cho biết: “Khi lần đầu biết đến món ăn này, tôi có phần dè dặt, e ngại rêu sẽ có vị tanh, khó khăn nhưng khi nướng lên lại vô cùng thơm và ăn rất là bùi”.
Cũng theo người dân địa phương, vài năm gần đây lượng rêu ngoài suối giảm dần, bởi vậy, nhiều hộ dân hiện vẫn giữ thói quen chỉ lấy vừa đủ, không cào tận gốc để giữ nguồn rêu cho mùa sau và bảo vệ những con suối đầu nguồn luôn trong sạch.
Giữa muôn vàn sản vật miền sơn cước, rêu đá suối mang lại hương vị riêng của núi rừng đại ngàn. Chính sự nguyên sơ cùng câu chuyện về những ngày gian khó bên dòng suối quê hương đã khiến món ăn này trở thành nỗi nhớ khôn nguôi trong lòng mỗi du khách khi rời xa xứ Tuyên.
NGUYỄN HOÀN