Vấn đề này được các chuyên gia thảo luận tại tọa đàm Quản lý chất thải rắn và vệ sinh môi trường tại đô thị xanh, thông minh. Tọa đàm do Viện Nghiên cứu đô thị và Phát triển hạ tầng (Tổng hội Xây dựng Việt Nam), phối hợp với Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hà Nội (URENCO) tổ chức.
Tọa đàm thu hút rất đông sự tham gia của các chuyên gia trong lĩnh vực môi trường. Ảnh: Đoan Túc
Điểm nghẽn cản trở vòng đời của chất thải đô thị
Số liệu công bố tại Tọa đàm cho biết, mỗi ngày Hà Nội phát sinh khoảng 8.500 tấn rác thải sinh hoạt từ 8,8 triệu dân. Trong đó, 7.600 tấn rác được thu gom và xử lý tập trung. Dù tỷ lệ thu gom đạt mức gần như tuyệt đối, công tác quản lý vẫn lộ rõ nhiều bất cập. Các điểm tập kết rác gây mùi hôi và rò rỉ nước tại khu trung chuyển. Hay việc phân loại rác tại nguồn thiếu tính đồng bộ. Bên cạnh đó, hạ tầng tái chế chưa thể theo kịp tốc độ phát sinh chất thải ngày càng lớn.
PGS-TS. Lưu Đức Hải, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đô thị và phát triển hạ tầng, nhấn mạnh mục tiêu sử dụng tài nguyên hiệu quả và thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua quản lý chất thải bền vững. Ảnh: Phú Lê
Phát biểu tại tọa đàm, PGS-TS. Lưu Đức Hải, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đô thị và phát triển hạ tầng, đặt vấn đề hạ tầng xanh là hệ thống môi trường nhân tạo gắn kết với tự nhiên. Hệ thống này hình thành qua quy hoạch và đầu tư hạ tầng nhằm bảo tồn hệ sinh thái. Mục tiêu cốt lõi là sử dụng tài nguyên hiệu quả và thích ứng biến đổi khí hậu.
Trong đó, quản lý chất thải rắn và vệ sinh môi trường xanh tập trung vào tái chế rác, xử lý bùn cặn. Hoạt động này giúp bảo vệ môi trường và tạo lợi ích kinh tế. Tuy nhiên, công nghệ hiện đại sẽ khó hiệu quả nếu thiếu cộng đồng đồng hành. Do đó, theo Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đô thị và phát triển hạ tầng, thay đổi hành vi xã hội phải là yếu tố trung tâm trong quản lý chất thải đô thị.
Những điểm yếu trong công tác quản lý và vận hành dòng chất thải được TS. Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam, thẳng thắn nhìn nhận, là bắt đầu từ tình trạng “mù” dữ liệu đầu nguồn. Hiện nay, cơ quan quản lý không nắm chắc khối lượng và đặc điểm rác thải tại từng khu dân cư. Chúng ta thiếu thông tin về thời điểm các thùng rác đầy hoặc rơi vào trạng thái quá tải. Sự thiếu hụt này khiến việc điều hành vận hành luôn rơi vào thế thụ động.
TS. Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam, chỉ ra những “điểm nghẽn” về cơ chế và quy hoạch đang cản trở việc triển khai các dự án môi trường tại Việt Nam. Ảnh: Đoan Túc
Nỗi lo về dữ liệu tiếp tục kéo dài sang quy trình thu gom hiện trường. Theo Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam việc vận chuyển rác hiện vẫn thực hiện thủ công theo lịch trình cố định. Cách làm này không bám sát thời gian thực và chưa thể tối ưu hóa lộ trình logistics. Hệ quả tất yếu là các tuyến xe chạy chồng chéo. Điều này gây lãng phí nhiên liệu và làm giảm hiệu suất vận hành xuống mức rất thấp.
Nhìn rộng hơn ở khâu cuối cùng, dữ liệu tại các bãi chôn lấp cũng đang bị bỏ ngỏ. Các chỉ số về tỷ lệ tái chế hay tác động môi trường chưa được quản lý bằng số liệu đo lường tức thời. Sự đứt gãy thông tin giữa khâu thu gom và xử lý tạo ra rào cản lớn. Cho nên, thiếu cơ sở chính xác để quyết định thời điểm dừng tiếp nhận rác tại các bãi chôn lấp.
Rác thải chất thành đống trên các xe tập kết, rơi ra vỉa hè, lòng đường. Ảnh: Huyền Trang
Cũng theo TS. Đặng Việt Dũng việc thiếu liên thông dữ liệu trong toàn bộ vòng đời chất thải là lực cản lớn nhất cho các mô hình đô thị thông minh. Mọi giải pháp công nghệ sẽ khó thành công nếu thiếu đi sự quyết tâm từ bộ máy chính quyền. Đây là công việc đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn và sự kiên trì trong tổ chức thực hiện. Nếu không sớm xây dựng hệ sinh thái dữ liệu số, mục tiêu về một đô thị xanh đúng nghĩa sẽ khó trở thành hiện thực.
Xu hướng quản lý chất thải: từ tiêu hủy sang tái tạo
Trên thế giới, xu hướng quản lý chất thải đang có sự dịch chuyển mạnh mẽ từ tư duy tiêu hủy sang tái tạo. GS-TS. Nguyễn Việt Anh, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, cho biết tại châu Âu, làm phân compost từ rác thải hữu cơ từng được coi là giải pháp bền vững cho nỗ lực khép kín vòng đời chất thải hữu cơ và cải tạo độ phì nhiêu cho đất nông nghiệp. Tuy nhiên, các quốc gia tại đây đang thắt chặt quy định và dự kiến dừng hoàn toàn phương pháp này vào năm 2030.
Ủ phân compost từ rác thải hữu cơ. Ảnh: Tư liệu
Tại Trung Quốc, từ năm 2005-2024, tỷ lệ rác đô thị xử lý bằng phương pháp chôn lấp giảm từ 85,2% xuống còn 5%, trong khi phương pháp đốt tăng từ 9,8% lên 84,6%. Ảnh: VCG
Nguyên nhân chính nằm ở sự tồn dư của vi nhựa trong sản phẩm đầu ra. Những tạp chất này không mất đi mà đi vào đất, sau đó xâm nhập trực tiếp vào chuỗi thức ăn của con người. Điều này buộc các nước phát triển phải thay đổi lộ trình, ưu tiên các công nghệ xử lý sâu để triệt tiêu các tác nhân độc hại thay vì chỉ tái chế đơn thuần.
Cùng quan điểm trong việc tìm kiếm lối thoát công nghệ, TS. Trịnh Xuân Đức, Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật hạ tầng và Môi trường, chia sẻ về sự phát triển của công nghệ đốt rác phát điện. Theo đó, tại Trung Quốc, các nhà máy đốt rác phát điện quy mô lớn đã chứng minh hiệu quả vượt trội trong việc thay thế chôn lấp.
Thay vì để rác phân hủy gây phát thải khí metan, hệ thống này chuyển hóa chất thải thành năng lượng sạch. Đặc biệt, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo giúp kiểm soát ngọn lửa và tối ưu hóa quá trình cháy, duy trì nhiệt độ buồng đốt ổn định. Công nghệ này đảm bảo hiệu suất phát điện tối đa và giữ chỉ số khí thải ở ngưỡng an toàn, hướng tới mục tiêu phát thải ròng âm.
TS. Trịnh Xuân Đức gợi mở lộ trình áp dụng các mô hình quản lý chất thải bền vững phù hợp với đặc thù Việt Nam. Ảnh: Đoan Túc
Dưới góc nhìn kinh tế tuần hoàn, GS-TS. Nguyễn Hoàng Giang, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, nhấn mạnh tái chế rác thải xây dựng là giải pháp cấp thiết hiện nay. Tại các nước phát triển, xà bần hay bê tông vụn được coi là “mỏ vàng” để sản xuất vật liệu mới thông qua trạm xử lý đa tầng. Quy trình bắt đầu từ khâu phân loại nghiêm ngặt tại công trường, sau đó rác được nghiền và sàng lọc thành cốt liệu thay thế đá tự nhiên. Cách làm này giải quyết triệt để bài toán chất thải xây dựng và giảm áp lực khai thác tài nguyên thiên nhiên.
Công ty TNHH MTV Thanh Tùng 2 (Đồng Nai) tái chế thành công tấm ván ép từ rác thải nhựa và tạo ra sản phẩm mới từ tấm ván ép. Ảnh: Khánh Đồng
Nội lực công nghệ trong nỗ lực hiện thực hóa đô thị xanh
Nhằm ứng dụng thực tiễn tại Việt Nam, nhiều giải pháp công nghệ cụ thể được đề xuất. GS-TS. Nguyễn Việt Anh giới thiệu tổ hợp công nghệ thủy nhiệt và phân hủy kỵ khí để xử lý chất thải hữu cơ và bùn thải. Công nghệ thủy nhiệt đóng vai trò xử lý nhiệt ướt dưới áp suất cao để phá vỡ các cấu trúc tế bào khó phân hủy trong bùn và rác hữu cơ. Quá trình này giúp tiêu diệt hoàn toàn vi nhựa cùng các mầm bệnh độc hại.
Kết hợp với công nghệ phân hủy kỵ khí giúp đẩy nhanh tốc độ phân hủy chất hữu cơ, gia tăng đáng kể sản lượng khí sinh học. Khí sinh học này được thu hồi để phục vụ nhu cầu năng lượng tại chỗ hoặc phát điện. Sản phẩm cuối cùng của chu trình xử lý là than sinh học có độ ổn định cao và giá trị thương mại lớn. Loại than này được ứng dụng rộng rãi làm chất cải tạo đất, phân bón hữu cơ chất lượng cao hoặc nhiên liệu đốt công nghiệp.
Nạo vét bùn thải trên sông Tô Lịch. Ảnh: Đức Tâm
Ở góc độ hạ tầng, GS. Giang đưa ra giải pháp biến rác thải xây dựng thành hệ thống bê tông thấm nước. Các loại gạch vụn và bê tông cũ được nghiền nhỏ, phân loại để làm cốt liệu sản xuất các khối cấu kiện vỉa hè. Loại bê tông này có cấu trúc rỗng đặc biệt, cho phép nước mưa thấm trực tiếp xuống lòng đất thay vì chảy tràn trên bề mặt. Thử nghiệm này hướng tới giảm tải cho hệ thống thoát nước, góp phần giải quyết tình trạng ngập úng nội đô tại các thành phố lớn.
GS-TS. Nguyễn Hoàng Giang giới thiệu giải pháp biến rác thải xây dựng thành bê tông thấm nước. Ảnh: Đoan Túc
Về mặt quản trị, TS. Đặng Việt Dũng đề xuất mô hình quản trị số 3 lớp, nhằm kiểm soát toàn diện và tối ưu hóa vòng đời của dòng chất thải đô thị. Giải pháp bắt đầu từ việc số hóa các điểm đầu nguồn như lắp cảm biến tại thùng rác và thiết bị định vị GPS trên xe vận chuyển. Mọi dữ liệu về khối lượng và lộ trình sẽ được truyền trực tiếp về trung tâm điều hành tập trung.
Tại đây, có thể giám sát dòng rác thải theo thời gian thực tương tự như giám sát giao thông thông minh. Mô hình này giúp tối ưu hóa nhân lực, giảm chồng chéo trong thu gom, đồng thời đảm bảo tính minh bạch trong quản lý ngân sách môi trường.
Huế đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào quản lý đô thị, ưu tiên là giám sát và xử lý tình trạng đổ rác không đúng quy định. Ảnh: dx.hue.gov.vn
Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho các sản phẩm tái chế
Dẫu vậy, đưa các giải pháp công nghệ vào đời sống đòi hỏi lộ trình cụ thể, bắt đầu từ tháo gỡ những rào cản về cơ chế và chính sách. GS-TS. Nguyễn Hoàng Giang khẳng định, ưu tiên hàng đầu là hoàn thiện “giấy thông hành” pháp lý cho các sản phẩm tái chế. Nếu thiếu bộ tiêu chuẩn và định mức kinh tế – kỹ thuật, các vật liệu mới như bê tông thấm nước sẽ khó rời khỏi phòng thí nghiệm. Đồng quan điểm, TS. Trịnh Xuân Đức cho rằng cần điều chỉnh đơn giá xử lý rác để tạo sức hút cho các nhà đầu tư công nghệ cao.
Trường học hướng dẫn học sinh phân loại rác thải nhựa tại nguồn. Ảnh: Tư liệu
Tuy nhiên, mọi nỗ lực kỹ thuật sẽ khó thành công nếu thiếu quyết tâm chính trị từ chính quyền. TS. Đặng Việt Dũng nhấn mạnh, vai trò của cơ quan quản lý được thể hiện rõ nét qua việc quy hoạch quỹ đất và thiết lập các cơ chế hành lang pháp lý cho những dự án môi trường.
Cuối cùng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam mong rằng có sự đồng hành của cộng đồng trong việc thực hiện phân loại rác tại nguồn bởi đây chính là yếu tố then chốt giúp vận hành hệ thống bền vững. Thiết lập sự kết hợp đồng bộ giữa chính sách, công nghệ xử lý sâu và hệ thống dữ liệu số là điều kiện tiên quyết để giải quyết triệt để bài toán chất thải cho đô thị hiện đại. Như vậy, khi hội tụ được cả công nghệ tiên tiến và quyết tâm cao độ, sẽ mở ra triển vọng hiện thực hóa khát vọng đô thị xanh bền vững tại Việt Nam.
Đoan Túc