Lễ tang chí sĩ Phan Châu Trinh năm 1926. Ảnh: Tư liệu
Trong ba nội dung, việc khai thông “dân trí” được xem là then chốt, bởi một khi đã có “dân trí” mới nâng cao “dân khí”, “dân sinh” và mới có thể nhằm đến “dân quyền”: “dân đã biết có quyền thì việc khác có thể tính làm được”.
Với cụ Phan, độc lập phải đi đôi với dân chủ, bởi: “Không đập tan được nền quân chủ thì dù có khôi phục được nước cũng không phải là hạnh phúc của dân”.
Tuy nhiên, các sĩ phu Duy tân nhận thấy: trình độ dân trí của nước ta bấy giờ còn quá thấp: “thủ cựu không biết đua chen”, “công việc thì lê mê lết mết”… “Khai dân trí” vì thế trước hết là phê phán giáo điều Nho giáo, chế độ phong kiến lạc hậu; đồng thời phê phán chính sách “khai hóa” nửa vời của thực dân Pháp.
Phan Châu Trinh chủ trương đổi mới giáo dục theo tinh thần học đi đôi với hành, coi trọng thực nghiệp, mở trường, cải tiến nội dung giảng dạy để bồi dưỡng lòng yêu nước, ý chí “tự lập, tự cường”.
Trong bài báo Hiện trạng vấn đề (1907), cụ Phan gửi gắm thông điệp: “Đồng bào ta, người nước ta, ai mà ham mến tự do, tôi xin có một vật rất quý báu tặng cho đồng bào, là “Chi bằng học”.
“Khai dân trí” không chỉ là cải cách giáo dục mà cũng là nền tảng của dân chủ, nâng cao tri thức và ý thức trách nhiệm của người dân, đặt con người vào vị trí chủ thể của phát triển.
Tại trung tâm thành phố Đà Nẵng có một ngôi trường THPT vinh dự mang tên nhà chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh. Ảnh: H.X.H
“Chấn dân khí” nhằm khơi dậy ý chí tự lực, tinh thần đoàn kết và ý thức đấu tranh vì quyền lợi chính đáng; đồng thời cải biến đời sống văn hóa - xã hội. Thực tiễn Phong trào Duy tân ở xứ Quảng đã cụ thể hóa tinh thần ấy.
Ở bình diện tư tưởng, “Chấn dân khí” thể hiện bản chất dân chủ sâu sắc: nhân dân không còn là đối tượng thụ động, mà là chủ thể được thức tỉnh và trao quyền hành động.
“Hậu dân sinh” là mục tiêu tất yếu của “Khai dân trí” và “Chấn dân khí”. Nhận thức rõ vai trò kinh tế trong công cuộc canh tân, các nhà Duy tân phê phán chính sách khai thác thuộc địa, lối sản xuất lạc hậu, đồng thời khuyến khích chấn hưng thực nghiệp.
“Hậu dân sinh” vì vậy là biểu hiện sớm của tinh thần vì dân, đặt nền tảng cho quan niệm lấy hạnh phúc của nhân dân làm trung tâm - một tinh thần được tiếp nối trong tư duy dân chủ hiện đại.
Nhìn lại tư tưởng của Phan Châu Trinh, có thể thấy dân chủ do cụ khởi xướng không khởi đi từ khẩu hiệu chính trị, mà từ việc làm cho người dân “biết”, từ đó hình thành năng lực tự chủ, ý thức trách nhiệm và khả năng tham gia vào đời sống quốc gia.
Đà Nẵng hôm nay đang viết tiếp câu chuyện “Khai dân trí” trong kỷ nguyên mới.
Từ bài học đồng thuận trong tái thiết đô thị đến các mô hình nhân văn như “Bình dân học vụ số”, “Đảng viên phụ trách hộ gia đình ở khu vực biên giới”, “Hộ khá giúp hộ khó”, “Cán bộ, đảng viên đồng hành cùng hộ nghèo”…, cùng việc tiên phong ban hành “Khung năng lực công dân số”, xây dựng các tổ công nghệ cộng đồng... thành phố không chỉ đổi mới phương thức quản trị mà còn khơi dậy tinh thần gắn kết cộng đồng, nâng cao năng lực số và vai trò giám sát của người dân.
Chuyển từ tư duy mệnh lệnh hành chính sang quản trị kiến tạo, Đà Nẵng đang từng bước hình thành một chính quyền biết lắng nghe, chủ động phục vụ và khơi dậy vai trò đồng kiến tạo của người dân trong quản trị đô thị.
Các chương trình nhân văn như “5 không, 3 có”, “4 an” cùng định hướng “5 cao” (tri thức cao, văn hóa cao, thu nhập cao, quản trị cao, mức sống cao) đã trực tiếp tạo niềm tin xã hội.
Nhiều năm liên tục dẫn đầu về chuyển đổi số (DTI), thành phố thông minh và duy trì đà tăng trưởng kinh tế tích cực, Đà Nẵng đang định vị mình bằng những bước đi đột phá, qua đó từng bước hiện thực hóa khát vọng “chấn dân khí, hậu dân sinh” trên hành trình vươn tầm thời đại.
LÊ THỊ NGỌC LỆ