Những người con của mẹ anh hùng
Mẹ Phạm Thị Nghèng gốc gác xã Nhân Trạch trước đây (nay là xã Nam Trạch), sát xã Quang Phú cũ. Thời con gái, mẹ bén duyên với ông Phạm Văn Rỏng (SN 1917) và có với nhau 5 người con gồm 4 gái, 1 trai.
Con trai duy nhất mất sớm, bốn người con gái của mẹ Nghèng gồm: Phạm Thị Ngạnh (SN 1952), Phạm Thị Tuệ (SN 1958), Phạm Thị Huế (SN 1964) và Phạm Thị Hà (SN 1970) tiếp tục truyền thống quê hương Quang Phú anh hùng, người mẹ anh hùng, trở thành những tấm gương phụ nữ "giỏi việc nước, đảm việc nhà", trong đó nổi bật nhất là bà Phạm Thị Ngạnh, nguyên Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Quang Phú (giai đoạn 1986 - 2000).
Bức thư ông Ngôn viết cho bà Ngạnh ở chiến trường, tháng 3/1972 - Ảnh: T.L
Sớm giác ngộ cách mạng, năm 1969, lúc mới 17 tuổi, bà Phạm Thị Ngạnh trở thành xã viên hợp tác xã (HTX) đánh cá bậc cao Quang Phú. Đến năm 1971, bà tham gia dân công hỏa tuyến phục vụ tại chiến trường Bình Trị Thiên. Từ tháng 11/1973 đến 3/1975, bà Phạm Thị Ngạnh là Trung đội trưởng du kích, phụ trách tổ dân công hỏa tuyến gồm 15 chị em phụ nữ Quang Phú tình nguyện lên đường chi viện cho chiến trường Lào.
Con rể mẹ Nghèng, chồng bà Phạm Thị Ngạnh là ông Hoàng Bá Ngôn (SN 1950), thương binh hạng 1/4, mất sức 81%. Ông Ngôn từng là cán bộ Trường Y tế Quảng Bình. Năm 1971, ông tình nguyện nhập ngũ thuộc Đoàn 22B, Quân khu IV. Sau một thời gian huấn luyện tân binh, ông Ngôn lên đường vào chiến trường B2 tham gia chiến đấu trong đội hình Trung đoàn 2, Sư đoàn 9, Quân đoàn 4 tại các mặt trận Campuchia và miền Đông Nam Bộ.
Ngày 22/5/1972, trong trận đánh địch tại thị xã Bình Long (tỉnh Bình Phước cũ), ông Ngôn bị thương nặng vào đầu, liệt 1/2 cơ thể bên phải, hỏng 1 mắt và tai trái. Do hoàn cảnh chiến trường khốc liệt nên đến năm 1974 ông mới được chuyển ra Bắc an dưỡng và điều trị tại Đoàn 583, Quân khu III và Đoàn 200, Quân khu IV. Đến tháng 10/1975, ông Ngôn trở về đoàn viên với gia đình.
Tình yêu “tôi rèn" qua mất mát chiến tranh
Một buổi chiều muộn trong ngôi nhà khang trang tại tổ dân phố Đông Phú, phường Đồng Thuận, tôi được nghe kể về câu chuyện tình của bà Phạm Thị Ngạnh và ông Hoàng Bá Ngôn. Một tình yêu đơn giản mà sắt son, bền vững đi qua chiến tranh, vượt lên trên nỗi đau thể xác.
"Chúng tôi quen biết nhau chỉ đúng ba ngày đêm, lúc tôi về làm công tác phòng chống dịch tại làng biển Quang Phú, gặp bà lúc đó là dân quân biển, tham gia đánh cá trong HTX Quang Phú. Tình cảm trai gái nảy sinh, chỉ kịp trao cho nhau lời thể sắt son, hẹn nhau đất nước thống nhất thì về chung nhà. Ba ngày sau, tôi được lệnh nhập ngũ... Từ đó, chúng tôi bặt tin nhau", ông Hoàng Bá Ngôn nhớ lại.
“Đất nước trong hoàn cảnh chiến tranh, thương nhau thì để trong bụng, không nói ra cho ai biết cả mô. Ông ấy vào Nam chiến đấu thì biền biệt luôn, không chút thông tin gửi về. Năm 1972, cán bộ đơn vị ông ấy ra Bắc nhận tân binh có chuyển cho tôi một bức thư, trong thư ông khuyên tôi đi lấy chồng, đừng chờ đợi nữa vì chiến trường ác liệt biết sống chết ngày nào mà chờ. Tôi cầm thư lên báo cáo tổ chức, kiên quyết chờ. Hậu phương phải chờ, phải làm chỗ dựa tinh thần vững chắc để tiền tuyến yên tâm đánh giặc. Tôi sang chiến trường Lào phục vụ chiến đấu, khi đất nước thống nhất, thấy nhiều người về cả rồi mà ông ấy vẫn bặt tin. Thương lắm, nhớ lắm, nhưng không nói. Cứ tin, sẽ có một ngày ông ấy trở về”, bà Phạm Thị Ngạnh kể.
"Bị thương nặng tháng 5/1972, nằm điều trị tại trạm xá chiến trường đến năm 1974 thì được chuyển ra Bắc an dưỡng, đầu tiên là ở Đoàn 583, Quân khu III, đến đầu năm 1975 thì chuyển vào Đoàn 200, Quân khu IV. Tôi biết mình không còn sức khỏe, sẽ trở thành gánh nặng cho gia đình, cho bà ấy nên quyết định im lặng. Tuy nhiên, tại quê nhà, bố tôi lúc đó tuổi đã ngoài 70, không còn ai chăm sóc, gia đình rất hoàn cảnh. Sau nhiều đêm suy nghĩ, tôi quyết định xin cấp trên cho về tự chăm sóc tại nhà. Lãnh đạo Đoàn 200 đã cử cán bộ về Quang Phú xác minh hoàn cảnh gia đình tôi, gặp được bà ấy và mẹ Phạm Thị Nghèng", ông Hoàng Bá Ngôn chia sẻ.
Vợ chồng ông bà Hoàng Bá Ngôn, Phạm Thị Ngạnh - Ảnh: T.L
“Gặp cán bộ Đoàn 200, biết ông ấy còn sống. Tôi hạnh phúc không thể nào tả nổi. Cán bộ hỏi tôi tự nguyện chăm sóc ông ấy được không? Tôi bảo họ cho mượn tờ giấy, ngòi bút rồi viết rất rành mạch, rõ ràng: "Nếu anh Ngôn về quê, tôi sẽ lấy anh ấy. Chăm sóc anh ấy đến hết cuộc đời". Và thế là... sau quãng thời gian gần 5 năm xa nhau, chúng tôi đã được đoàn tụ cùng nhau", bà Phạm Thị Ngạnh hạnh phúc kể.
Tháng 11/1975, thương binh Hoàng Bá Ngôn và bà Phạm Thị Ngạnh "thành đôi, thành đùa". Hạnh phúc nhân lên khi hai vợ chồng lần lượt đón những người con chào đời: Chị Hoàng Thị Ngân (SN 1976) và các anh: Hoàng Bá Sơn (SN 1979), Hoàng Bá Ngọc (SN 1982).
“Ngắm lại, cuộc đời tôi may mắn hơn gấp nhiều lần đồng đội, đồng chí mình vì được sống trong tình yêu thương của quê hương, đất nước, đặc biệt là sự hy sinh của người vợ đảm. Vợ chồng tự động viên nhau cố gắng tựa vào nhau đi cho đến hết cuộc đời này. Đúng như lời bức thư tôi viết cho bà ấy nhưng không gửi tại chiến trường, khi nằm trên giường bệnh, lúc cận kề giữa cái sống và cái chết, tháng 3/1972: "Em ơi, muốn có một mùa hoa/Muốn nước độc lập phải xông pha/Chẳng sợ hy sinh trong bom đạn/Nếu cần cống hiến trái tim ta... Hẹn ngày gió mát trăng thanh/Hoàn thành nhiệm vụ em, anh trở về Thủy chung, son sắt, lời thề/ Ngày Xuân chiến thắng ta về nghe em!", ông Hoàng Bá Ngôn vui chuyện trong niềm hạnh phúc dâng đấy.
Ngô Thanh Long