Trong giai đoạn 2017-2018, Bộ Thương mại Mỹ (DOC) và Ủy ban Thương mại Quốc tế (ITC) hoàn tất điều tra và ban hành các lệnh áp thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với ván ép gỗ cứng (hardwood plywood) nhập khẩu từ Trung Quốc. Các mức thuế mới khiến mặt hàng này của Trung Quốc nhập vào Mỹ dần mất lợi thế về giá tạo điều kiện để những nhà cung cấp khác - trong đó có Việt Nam - mở rộng hiện diện và gia tăng thị phần.
Lợi thế đi kèm rủi ro phòng vệ thương mại gia tăng
Tuy nhiên, đến giữa năm 2025 này, phía Mỹ đã thông báo nguy cơ điều tra chống bán phá giá đối với ván ép của Việt Nam, đặt mặt hàng này trước khả năng cùng lúc phải chịu thuế chống bán phá giá và thuế đối ứng. Diễn biến này cho thấy lợi thế cạnh tranh hình thành chủ yếu từ các biện pháp thuế quan ở thị trường nước ngoài luôn mang tính tạm thời và đi kèm rủi ro phòng vệ thương mại gia tăng.
Máy chà bóng xử lý bề mặt.Ảnh: TEKCOM
Chuỗi cung ứng Việt Nam đang bước vào một giai đoạn mới đầy xáo trộn nhưng cũng đã kịp xây dựng một nền tảng tương đối thuận lợi nhờ năng lực chế biến được tích lũy qua nhiều năm; chi phí lao động vẫn ở mức cạnh tranh; cũng đã hình thành một số cụm rừng trồng keo, bạch đàn, cao su dù còn nhiều “nút thắt” về nguyên liệu.
Dữ liệu thương mại những năm gần đây cho thấy, Việt Nam thường xuyên nằm trong nhóm ba nước xuất khẩu ván ép lớn nhất chỉ sau Trung Quốc và Indonesia, với kim ngạch năm 2023 xấp xỉ 850 triệu đô la Mỹ trên toàn các mã HS 4412(*), tập trung ở các thị trường Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và EU. Dù thứ hạng có thể thay đổi theo từng tiểu mã HS, nhưng nhìn tổng thể, Việt Nam đã có một vị trí đáng kể và vẫn còn dư địa cải thiện thứ hạng - nếu giải được bài toán tuân thủ tiêu chuẩn.
Bài toán khó về tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế
Giao dịch thương mại đồ gỗ công nghiệp hiện nay không còn là cuộc đua về giá. Từ năm 2019, Mỹ chính thức đưa chuẩn quản lý phát thải formaldehyde ở sản phẩm gỗ công nghiệp vào Đạo luật Kiểm soát chất độc hại (TSCA) Title VI. Theo đó, các sản phẩm ván ép phải được chứng nhận bởi tổ chức bên thứ ba do Cơ quan Bảo vệ môi trường Mỹ (EPA) công nhận; dán nhãn tuân thủ; hồ sơ kiểm định phải theo quy định... Điều này khiến việc “chạy chỗ trống” do thuế quan trở nên vô nghĩa nếu doanh nghiệp không đầu tư song song phòng thí nghiệm, quy trình kiểm thử và chuỗi nhà cung cấp keo đạt chuẩn.
Ở châu Âu, Quy định chống phá rừng (EUDR) buộc nhà nhập khẩu chứng minh lô hàng gỗ “không liên đới tới phá rừng”, kèm tọa độ địa lý vùng nguyên liệu, hệ thống truy xuất theo lô và chịu chế tài mạnh tay nếu vi phạm. Hôm 21-10 vừa qua, Ủy ban châu Âu đã điều chỉnh về EUDR, giữ nguyên thời hạn áp dụng từ 30-12-2025 cho doanh nghiệp lớn và trung bình nhưng được hưởng sáu tháng ân hạn cho kiểm tra và thực thi; riêng nhóm doanh nghiệp nhỏ có thời gian chuyển tiếp dài hơn đến 30-12-2026. Một số đề xuất “nới” thủ tục được đưa ra nhưng khung yêu cầu cốt lõi không thay đổi. Nghĩa là với nhà sản xuất Việt Nam, “giấy thông hành” sang EU là hồ sơ số hóa lộ trình từ rừng trồng tới tấm ván.
CHOT_STUDIO_TEXPRO0399998939
Thực tế, ngành gỗ Việt Nam nói chung và ván ép nói riêng vẫn gặp “nút thắt” về nguyên liệu đầu vào. Chỉ riêng nửa đầu năm 2024, Việt Nam đã nhập gỗ từ 102 quốc gia, trong đó hơn 83% là gỗ nguyên liệu, cho thấy khoảng trống lớn giữa nhu cầu chế biến và khả năng cung ứng trong nước. Ở phía nguồn cung nội địa, bức tranh lại manh mún với hơn 80% rừng sản xuất thuộc hộ gia đình, diện tích nhỏ lẻ dưới 2 héc ta, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhiều nơi không khớp với diện tích thực tế.
“Gỗ vì thế thường đi qua nhiều tầng thương lái, bị trộn lẫn từ nhiều lô để đủ chuyến xe trước khi vào nhà máy - một thực tế khiến chuỗi hành trình sản phẩm (COC) bị đứt đoạn ngay từ khâu đầu. Đây là một thách thức lớn đối với doanh nghiệp”, ông Lưu Công Sang, chuyên gia đánh giá cấp cao SGS Việt Nam - chuyên về giám định, thử nghiệm và chứng nhận chất lượng toàn cầu - nhận định.
Ông Vũ Quang Huy, Tổng giám đốc TEKCOM - doanh nghiệp sản xuất plywood tại TPHCM - thừa nhận rào cản lớn không nằm ở máy móc mà còn ở năng lực kiểm soát chất lượng “từ gốc đến ngọn”. Để có thể xuất khẩu, tất cả các sản phẩm của TEKCOM, từ plywood đến tủ bếp đều bảo đảm hàm lượng formaldehyde thấp (FE < 0,05ppm) - không cay, không độc hại, tuân thủ theo chuẩn CARB-P2 của Mỹ, E1 mới của châu Âu.
“Để đạt được điều này thực sự rất thách thức vì phải kiểm soát toàn bộ nguyên liệu đầu vào và các khâu vận hành trong nhà máy. Các chất này có thể ảnh hưởng lây nhiễm chéo rất nhanh sang nguyên liệu “khỏe mạnh” khác. Đồng thời phải đảm bảo quá trình thử nghiệm và kiểm soát hệ thống, truy vết được đến từng sản phẩm”, ông Huy nói. Chỉ cần một lô gỗ không đạt chuẩn hoặc một sai lệch nhỏ trong quy trình vận hành cũng đủ làm hỏng cả mẻ sản xuất, kéo theo nguy cơ chậm trả hàng và mất uy tín với khách mua ở các thị trường khó tính.
Hướng đi trong kỷ nguyên tuân thủ và phòng vệ thương mại
Như vậy, sự phân hóa trong cuộc cạnh tranh trở nên rõ ràng hơn. Lợi thế “tĩnh” do thuế quan mang lại có thể giúp doanh nghiệp tiếp cận những khách hàng mới, nhưng chính lợi thế “động” mới quyết định khả năng giữ khách hàng lâu dài.
Lợi thế động đó thể hiện ở năng lực dịch chuyển lên phân khúc cao hơn, như chuyển từ cung cấp ván ép nguyên liệu cho xây dựng - vốn phụ thuộc mạnh vào chu kỳ đầu tư - sang các dòng ván nội thất đòi hỏi chất lượng bề mặt, độ ổn định và kiểm soát phát thải nghiêm ngặt hơn. Hay tăng tốc học hỏi và chuẩn hóa quy trình theo các khung tiêu chuẩn của EPA hay EU đáp ứng yêu cầu cung cấp dữ liệu truy xuất minh bạch đến từng lô rừng, thay vì chỉ dừng ở hồ sơ tổng hợp. Lợi thế “thay thế nguồn cung” do biến động thuế quan vì vậy khó bền vững nếu không đi kèm quá trình nâng chuẩn tuân thủ và chất lượng.
Việc nâng chuẩn tất nhiên kéo theo chi phí cao hơn, nhưng đây được cho là dạng chi phí có tác dụng như một “hào lũy” cạnh tranh. Doanh nghiệp chấp nhận đầu tư sớm để thiết lập quy trình kiểm nghiệm, chứng nhận và truy xuất nguồn gốc sẽ có cơ hội giữ chân khách hàng ở phân khúc trung - cao, nơi biên lợi nhuận tốt hơn và nguy cơ bị áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại cũng thấp hơn so với nhóm hàng giá rẻ.
Tại Mỹ, hệ thống TSCA Title VI ràng buộc mọi khâu trong chuỗi - từ nhà sản xuất ván nền đến nhà bán lẻ sản phẩm hoàn thiện - cùng chịu trách nhiệm về việc dán nhãn và lưu trữ hồ sơ. Ở EU, bản đồ tọa độ rừng trồng và hành trình của từng lô hàng trở thành “ngôn ngữ chung” giữa nhà máy tại Việt Nam và nhà nhập khẩu. Trong bối cảnh đó, sản phẩm không đi kèm dữ liệu truy xuất rõ ràng sẽ khó có chỗ đứng trên kệ hàng.
Rủi ro pháp lý cũng dịch chuyển cùng với dòng hàng. Khi thương mại đổi hướng quá nhanh, các cơ quan phòng vệ thương mại tại các thị trường tiêu thụ có khuynh hướng mở rộng điều tra để ngăn chặn hành vi “lẩn tránh thuế” qua nước trung gian. Với plywood - sản phẩm được cấu thành từ nhiều lớp veneer ghép lại - nguy cơ trở thành đối tượng bị xem xét càng lớn nếu nhà xuất khẩu không chứng minh rõ ràng được tỷ lệ đóng góp nguyên liệu và gia công tại chỗ.
Vậy đâu là hướng đi cho giai đoạn tới? Trước hết là “số hóa” tính hợp pháp của nguyên liệu với việc liên kết rừng trồng - nhà máy trên một nền tảng truy xuất đủ chi tiết để đi qua EUDR, nhưng đủ đơn giản để nông hộ tham gia. Tiếp theo là đầu tư phòng nghiên cứu và làm chủ kiểm định - không để mỗi lô hàng phụ thuộc lịch của bên thứ ba, vừa kéo dài vòng quay, vừa tăng nguy cơ bị trả hàng. Cuối cùng là thiết kế danh mục sản phẩm và thị trường theo “đồ thị rủi ro” với việc tăng trọng số phân khúc có yêu cầu cao (và giá bán cao) ở Mỹ, EU, Nhật Bản, trong khi giữ chân hàng phổ thông tại các thị trường khu vực châu Á để dàn trải biến động chu kỳ.
“Cánh cửa hẹp” cho ván ép Việt Nam vẫn đang mở. Nhưng căn phòng phía sau cánh cửa ấy vận hành theo bộ nội quy khắc nghiệt do các thị trường phát triển đặt ra. Ở lại được hay không sẽ không do giá FOB (giá hàng hóa tại cảng của nước xuất khẩu) quyết định, mà do năng lực kể một câu chuyện dữ liệu mạch lạc về nguồn gốc rừng, phát thải và chất lượng - câu chuyện mà hầu hết khách mua giờ đây đều đòi hỏi đọc tới dòng cuối.
Ván ép (plywood) được ưa chuộng nhiều vì có kết cấu bền, chắc, khả năng chịu ẩm, chịu lực tốt và ứng dụng nhiều trong xây dựng, đóng tàu hay vận tải… và làm các sản phẩm nội thất, trang trí. Giá trị giao dịch toàn cầu của plywood năm 2023 đạt 15,5 tỉ đô la Mỹ, bình quân năm năm gần nhất, nhóm hàng này giảm 1,43%/năm, theo dữ liệu thương mại toàn cầu của OEC. Nhu cầu về ván ép phụ thuộc chặt chẽ vào diễn biến thị trường xây dựng và sức mua của người tiêu dùng.
(*) https://oec.world/en/profile/hs/plywood
Tâm Phạm - Trịnh Minh