Bài phỏng vấn của PetroTimes với Viện trưởng Lê Nguyễn Thiên Nga được thực hiện trong bối cảnh Viện Quản trị Chính sách và Chiến lược phát triển đang hoàn thiện báo cáo Nhà nước đặt hàng: “Đánh giá tác động của an ninh năng lượng và cấu trúc kinh tế toàn cầu đến chiến lược phát triển quốc gia Việt Nam”.
PV: Bà đánh giá như thế nào về các lần giảm thuế của Chính phủ gần đây đối với xăng, dầu trong thời gian qua?
Viện trưởng Lê Nguyễn Thiên Nga: Quyết định giảm sâu thuế xăng dầu, điều chỉnh linh hoạt VAT và thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế môi trường, đồng thời tạm ứng 8.000 tỷ đồng từ ngân sách cho Quỹ bình ổn giá, là phản ứng chính sách quyết liệt và kịp thời trước cú sốc địa chính trị năng lượng toàn cầu. Đây là bước đi đột phá, phản ánh mức độ chủ động và quyết đoán cao của Chính phủ khi lần đầu tiên các sắc thuế cấu thành giá xăng dầu được cắt giảm đồng loạt trong một khung thời gian đặc biệt (26/3-15/4/2026).
Theo phân tích trong báo cáo Nhà nước đặt hàng: “Đánh giá tác động của an ninh năng lượng và cấu trúc kinh tế toàn cầu đến chiến lược phát triển quốc gia Việt Nam” của Viện Quản trị Chính sách và Chiến lược phát triển, các biện pháp này giảm đáng kể mức độ truyền dẫn của cú sốc giá quốc tế vào nền kinh tế trong nước, hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô trong ngắn hạn.
Các ước tính vĩ mô cho thấy, giá xăng dầu trong nước giảm trực tiếp khoảng 5-10% so với kịch bản không can thiệp. Mỗi 10% tăng giá xăng dầu có thể làm CPI tăng khoảng 0,35-0,5 điểm phần trăm; nhờ các biện pháp giảm thuế, áp lực lạm phát trong Quý I/2026 giảm khoảng 0,2-0,3 điểm phần trăm, dù con số cụ thể còn phụ thuộc vào độ trễ chính sách và phản ứng thị trường.
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng giảm thuế là công cụ ngắn hạn. Theo kinh nghiệm quốc tế từ Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), các biện pháp hỗ trợ giá năng lượng chỉ nên được sử dụng như giải pháp tạm thời, bởi kéo dài quá lâu có thể: Tạo áp lực lên ngân sách, giảm khả năng chi tiêu cho các lĩnh vực khác; Làm sai lệch tín hiệu thị trường, giảm động lực tiết kiệm và chuyển dịch năng lượng; Trì hoãn các giải pháp cấu trúc dài hạn, như tự chủ nguồn cung, dự trữ chiến lược và đầu tư vào công nghệ năng lượng sạch.
Do đó, quyết sách giảm thuế vừa là công cụ điều hành ngắn hạn, vừa là tín hiệu mạnh mẽ về khả năng phản ứng của Chính phủ, nhưng ngay bây giờ phải xây dựng đồng bộ các giải pháp hướng tới mục tiêu dài hạn, bảo đảm Chiến lược Năng lượng Quốc gia, nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước biến động năng lượng toàn cầu.
PV: Theo bà, những chính sách tài khóa này sẽ tác động ra sao đến tâm lý thị trường xăng dầu trong nước? Doanh nghiệp đầu mối, phân phối xăng dầu và người dân sẽ được hưởng lợi như thế nào từ chính sách này, thưa bà?
Viện trưởng Lê Nguyễn Thiên Nga: Tác động quan trọng nhưng thường bị đánh giá thấp của chính sách giảm thuế là ổn định kỳ vọng thị trường. Nếu Nhà nước không can thiệp, thị trường có thể rơi vào tâm lý kỳ vọng giá tăng liên tục; tích trữ, đầu cơ, gián đoạn cung cục bộ.
Với việc giảm thuế, doanh nghiệp đầu mối, phân phối sẽ giảm áp lực vốn lưu động, hạn chế rủi ro thua lỗ khi giá nhập khẩu tăng; doanh nghiệp vận tải, logistics sẽ được giảm chi phí nhiên liệu, giảm áp lực tăng giá cước; và giúp người dân giảm chi phí đi lại trực tiếp và giảm hiệu ứng lan tỏa lên giá hàng hóa thiết yếu.
Tuy nhiên, lợi ích không phân bổ đồng đều; một phần có thể bị giữ lại trong chuỗi trung gian. Vì vậy, chúng ta cũng đang được thấy chính sách thuế được thực hiện kèm giám sát thị trường và điều tiết cạnh tranh để tối ưu hiệu quả.
PV: Ở góc nhìn của bà, trong việc triển khai Kết luận 14-KL/TW về đảm bảo nguồn cung, giá nhiên liệu trong tình hình mới, người dân cần thay đổi hành vi quản trị và hành vi tiêu dùng năng lượng như thế nào để tạo tác động thực chất?
Viện trưởng Lê Nguyễn Thiên Nga: Nếu chỉ dựa vào chính sách Nhà nước mà không thay đổi hành vi quản trị và hành vi tiêu dùng, hiệu quả sẽ rất hạn chế.
Ba trụ cột quản trị năng lượng, gồm: Tối ưu hóa tài nguyên hiện hữu bằng công nghệ, nâng hiệu suất thu hồi và tích lũy năng lượng; Chuyển đổi số toàn chuỗi năng lượng, quản trị dựa trên dữ liệu và dự báo; Tích hợp liên ngành năng lượng, vận hành dầu, khí, điện, năng lượng xanh như hệ thống thống nhất để tối ưu chi phí và giảm biến động.
Trong nghiên cứu, Viện Quản trị Chính sách và Chiến lược phát triển đã phân tích về cường độ năng lượng của Việt Nam cao hơn 1,3-1,5 lần so với OECD, cho thấy dư địa tiết kiệm còn rất lớn. Người dân cần chuyển từ tiêu dùng theo thói quen sang tiêu dùng có ý thức về chi phí và hiệu quả. Điều này bao gồm việc giảm sử dụng phương tiện tiêu hao nhiên liệu cao, tăng sử dụng giao thông công cộng, ưu tiên thiết bị tiết kiệm năng lượng và từng bước chuyển sang phương tiện điện hoặc hybrid.
Viện đã đưa ra 3 khuyến nghị người dân chuyển dịch hành vi cơ bản bằng việc tối ưu hóa tiêu dùng: giảm tiêu hao, ưu tiên hạ tầng công cộng. Chuyển sang năng lượng sạch như điện hóa tiêu dùng, áp dụng năng lượng tái tạo hộ gia đình. Số hóa hành vi tiêu dùngm dùng dữ liệu và công nghệ thông minh để quản lý và phản ứng theo thời gian thực.
Mỗi 1% tiết kiệm năng lượng toàn xã hội có thể giúp giảm khoảng 0,1-0,15 điểm phần trăm áp lực CPI. Điều đó cho thấy thay đổi hành vi không chỉ là vấn đề môi trường, mà còn là công cụ kinh tế vĩ mô thực sự.
Viện trưởng Lê Nguyễn Thiên Nga trong cuộc trò chuyện với Bộ trưởng Bộ Năng lượng Azerbaijan.
PV: Theo bà, sự điều hành của Chính phủ Việt Nam có sự tương quan như thế nào trong bức tranh năng lượng Quốc tế?
Viện trưởng Lê Nguyễn Thiên Nga: Quyết định của Chính phủ Việt Nam không thể được hiểu đầy đủ nếu chỉ nhìn từ góc độ kinh tế trong nước. Đây là phản ứng chính sách trước cú sốc địa chính trị năng lượng toàn cầu, nơi giá dầu không còn chỉ do cung - cầu mà bị chi phối bởi cạnh tranh quyền lực giữa các trung tâm OPEC, Hoa Kỳ và các điểm nóng tại Trung Đông.
Trên bình diện quốc tế, động thái của Chính phủ thuộc xu hướng chính sách “van giảm áp” trong bối cảnh giá năng lượng biến động mạnh. Theo báo cáo chiến lược của Viện Quản trị Chính sách và Chiến lược phát triển, tổng hợp từ International Energy Agency (IEA) và International Monetary Fund (IMF), nhiều quốc gia đã triển khai các biện pháp tài khóa để hạ nhiệt tác động lan tỏa của giá nhiên liệu lên lạm phát và chi phí sản xuất. Xu hướng chung cho thấy các quốc gia kết hợp giảm thuế, trợ giá và can thiệp nguồn cung, tùy theo cấu trúc thị trường và dư địa tài khóa.
Trong cùng thời điểm, Nhiều nước đồng loạt hạ nhiệt giá năng lượng: giảm thuế (Thái Lan, Na Uy), trợ giá (Italy, Tây Ban Nha), hỗ trợ hóa đơn (Đức, Hàn Quốc), xả dự trữ dầu (Hoa Kỳ), trong khi Pháp cảnh báo nguy cơ kích cầu làm tăng lạm phát…
Báo cáo của Viện Quản trị Chính sách và Chiến lược phát triển đưa ra khuyến nghị về Khung kiến trúc Chiến lược tương lai, nhằm chuẩn bị cho giai đoạn ngay khi kết thúc giảm thuế bao gồm các giải pháp đồng bộ: Nâng cao khả năng chủ động nguồn cung để tự chủ xăng dầu; tăng năng lực dự trữ chiến lược để ứng phó gián đoạn; đầu tư vào lọc - hóa dầu và công nghệ năng lượng để thúc đẩy chuyển dịch xanh và tăng hiệu quả năng lượng.
Phương Thảo