>
Tại Diễn đàn Du lịch Đông Nam Á (ATF 2026) diễn ra cuối tháng 1 tại Cebu (Philippines), Thứ trưởng Bộ VHTTDL Hồ An Phong đã khẳng định, chiến lược cốt lõi của du lịch Việt Nam trong những năm gần đây là lấy văn hóa làm nền tảng. Thay vì chạy theo số lượng, ngành du lịch sẽ tập trung vào chất lượng và hiệu quả bền vững bằng cách xây dựng các sản phẩm du lịch chất lượng cao dựa trên nền tảng văn hóa, đẩy mạnh phát triển hạ tầng và phát triển các điểm đến mới hấp dẫn.
“Văn hóa là sự khác biệt, Việt Nam có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc hàng nghìn năm lịch sử. Chúng tôi xây dựng sản phẩm du lịch cao cấp chất lượng cao dựa trên nền tảng văn hóa của con người, ẩm thực và thiên nhiên,” Thứ trưởng Hồ An Phong nói.
Theo ông, Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia trong khu vực ASEAN, đồng thời lựa chọn con đường phát triển vừa tương đồng vừa khác biệt để tạo sức hút riêng. Những mô hình tiêu biểu có thể tham khảo gồm du lịch biển của Bali, du lịch sinh thái của Chiang Mai, cách làm thị trường khách của Singapore hay du lịch cộng đồng tại Philippines, Campuchia và Lào. Song song với đó, Việt Nam cũng đang thúc đẩy phát triển các sản phẩm lữ hành liên kết chuỗi điểm đến Đông Nam Á, mở rộng không gian trải nghiệm cho du khách quốc tế.
Định hướng phát triển này được củng cố trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 7/1/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó xác định rõ phát triển văn hóa và con người vừa là nền tảng, vừa là nguồn động lực quan trọng cho tăng trưởng nhanh và bền vững.
Nghị quyết đặt ra yêu cầu nghiên cứu, định giá tổng giá trị kinh tế của văn hóa, xây dựng thương hiệu điểm đến Việt Nam trên phạm vi toàn cầu, biến di sản thành tài sản và hình thành mô hình “di sản dẫn dắt phát triển kinh tế” tại các khu di sản thế giới cũng như một số đô thị di sản.
Trước đó, Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, được phê duyệt theo Quyết định số 1755/QD-TTg ngày 8/9/2016, đã xác định du lịch văn hóa là một trong 13 ngành công nghiệp văn hóa trọng điểm, với mục tiêu đến năm 2030 đóng góp 15-20% trong tổng doanh thu dự kiến khoảng $40 tỷ từ hoạt động du lịch.
Theo GS.TS Đào Mạnh Hùng, Chủ tịch Liên Chi hội Đào tạo Du lịch Việt Nam thuộc Hiệp hội Du lịch Việt Nam, du lịch và công nghiệp văn hóa có mối quan hệ cộng hưởng chặt chẽ. Du lịch là kênh quảng bá hiệu quả nhất cho công nghiệp văn hóa, trong khi công nghiệp văn hóa lại cung cấp cho du lịch những sản phẩm độc đáo, giàu bản sắc, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến.
“Việt Nam đặt mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP vào năm 2030, trong đó du lịch văn hóa được xác định là trụ cột quan trọng,” GS.TS Hùng nhấn mạnh.
Ảnh tư liệu minh họa
Thực tế, nhiều sản phẩm du lịch văn hóa của Việt Nam đã tạo được dấu ấn rõ nét trên thị trường quốc tế. Những điểm đến như Vịnh Hạ Long, Tràng An, Cố đô Huế hay Phố cổ Hội An không chỉ hấp dẫn bởi cảnh quan và chiều sâu lịch sử, mà còn là không gian kết tinh các giá trị văn hóa đặc sắc. Các chương trình nghệ thuật thực cảnh như “Ký ức Hội An”, “Tinh hoa Bắc Bộ”, nghệ thuật múa rối nước hay các tour du lịch làng nghề ngày càng được du khách quốc tế ưa chuộng.
Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp khác đang tập trung phát triển các tour du lịch sinh thái và du lịch thiên nhiên tại các điểm đến trọng điểm như Vịnh Hạ Long, Huế, Đà Nẵng, Hội An và Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Giang. Các sản phẩm này không chỉ tập trung vào tham quan và giải trí mà còn kết hợp các hoạt động giúp du khách hiểu sâu hơn về môi trường, văn hóa địa phương và đời sống cộng đồng.
Theo ông Cao Trí Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng, các doanh nghiệp du lịch hiện đang hướng tới việc khai thác sâu hơn nhu cầu về trải nghiệm cá nhân hóa và các yêu cầu chuyên biệt của phân khúc du lịch cao cấp. Các trung tâm du lịch lớn như Đà Nẵng, Nha Trang và Phú Quốc đang dẫn đầu trong việc phát triển hệ sinh thái các sản phẩm du lịch cao cấp và siêu cao cấp gắn liền với bản sắc văn hóa địa phương.
“Đầu tư vào các sản phẩm ngách như du lịch sự kiện, đám cưới sang trọng và các khu nghỉ dưỡng kết hợp văn hóa bản địa là giải pháp then chốt để kéo dài thời gian lưu trú và tăng chi tiêu của du khách”, ông Dũng nói thêm.
Tuy nhiên, theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, quy mô thị trường văn hóa sáng tạo của Việt Nam hiện mới chiếm khoảng 4% GDP, thấp hơn đáng kể so với mức bình quân 7-10% của nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc thiếu hụt hạ tầng sáng tạo, cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và phát triển thị trường lao động sáng tạo.
“Ở nhiều địa phương, chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa chưa được xây dựng một cách bài bản, công tác quy hoạch, đào tạo nhân lực và liên kết vùng vẫn còn hạn chế,” Thứ trưởng Bộ VHTTDL Hồ An Phong nói.
Để khắc phục những điểm nghẽn này, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đặt mục tiêu đến năm 2030 sẽ tu bổ, tôn tạo ít nhất 80% di tích quốc gia đặc biệt, tương đương khoảng 120 di tích, và khoảng 40% di tích quốc gia, tương đương gần 1.500 di tích. Đồng thời, 100% di sản văn hóa phi vật thể trong Danh mục quốc gia và các danh sách của UNESCO sẽ có đề án quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị, gắn với việc xây dựng không gian, công cụ và hạ tầng phục vụ thực hành, trình diễn, giới thiệu và truyền dạy di sản trong cộng đồng.
Bước sang năm 2026, ngành du lịch đặt mục tiêu đón 25 triệu lượt khách quốc tế, 150 triệu lượt khách nội địa và đạt doanh thu khoảng $45 tỷ. Trong bức tranh đó, du lịch văn hóa được kỳ vọng sẽ trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng, góp phần nâng cao giá trị điểm đến và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của du lịch Việt Nam trong giai đoạn tới.
PV: Sau gần 10 năm Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, được ban hành, theo ông, đâu là những thành tựu nổi bật nhất và những điểm nghẽn lớn nhất khi thực hiện Chiến lược này?
Ông Miquel Angel: Sau 27 năm sinh sống và làm việc tại Việt Nam, chúng tôi ghi nhận những bước tiến đáng kể trong lĩnh vực du lịch văn hóa và bảo tồn di sản trong những năm gần đây.
Trong tổng số 21,5 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam năm 2025, nhiều du khách đã lựa chọn tham quan các điểm đến giàu giá trị văn hóa trên khắp cả nước, qua đó góp phần gia tăng giá trị và hiệu quả kinh tế cho ngành du lịch.
Tuy nhiên, bên cạnh thành công về lượng khách, vẫn tồn tại không ít vấn đề như: công tác bảo tồn tại một số di tích còn hạn chế; tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đến nhiều điểm đến; sự suy giảm tài nguyên thiên nhiên do phát triển công trình mới ảnh hưởng tới di sản văn hóa; sự thiếu hụt các tiêu chuẩn bền vững trong bảo tồn công trình và không gian văn hóa; và mức độ số hóa còn thấp.
PV: Về các không gian văn hóa và giải trí, theo ông, đâu là những địa điểm có tiềm năng trở thành sản phẩm du lịch chủ lực?
Ông Miquel Angel: Khi phân tích các lựa chọn tại nhiều loại hình điểm đến khác nhau, từ vùng biển đảo, các tỉnh thành ven biển, miền núi đến đô thị, có thể nhận thấy một thực tế chung: phần lớn du khách quốc tế chỉ đến Việt Nam một lần, trong khi tỷ lệ quay trở lại ở các quốc gia láng giềng cao hơn đáng kể.
Trong một chuyến đi kéo dài trung bình 7-12 đêm, du khách thường lựa chọn hành trình xuyên Việt từ Bắc vào Nam hoặc ngược lại. Cách thức di chuyển này khiến nhiều điểm đến giàu tiềm năng bị bỏ qua, do du khách chủ yếu dừng chân tại các địa điểm nổi tiếng nhất.
Các vấn đề thường được du khách phản ánh bao gồm: thiếu các hoạt động buổi tối và ban đêm; tình trạng rác thải chưa được thu gom đầy đủ; và thiếu các quy chuẩn, quy trình đảm bảo tính bền vững.
Trong ba tháng gần đây, cá nhân tôi đã làm việc tại Phú Quốc, Đà Lạt, Lào Cai và Sa Pa, và nhận thấy các địa phương này đều thiếu các hoạt động giải trí mang tính điển hình. Chỉ tại những đô thị lớn như Hà Nội hay TP.HCM mới có thể thấy các loại hình giải trí về đêm tương đối đa dạng. Do người Việt Nam có thói quen bắt đầu ngày mới sớm, phần lớn tour và hoạt động du lịch hiện tập trung vào ban ngày, trong khi khung giờ buổi tối và ban đêm gần như bị bỏ ngỏ trên phạm vi toàn quốc.
PV: Về vai trò của khu vực tư nhân và nhà đầu tư quốc tế trong việc định hình hệ sinh thái du lịch văn hóa và giải trí tại Việt Nam, ông nhìn nhận như thế nào?
Ông Miquel Angel: Khu vực tư nhân và các nhà đầu tư quốc tế đóng vai trò then chốt trong quá trình này, song sự tham gia của họ vẫn bị hạn chế bởi những khoảng trống chính sách và năng lực quản trị còn yếu.
Dù chúng tôi thường xuyên tư vấn cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các chính quyền địa phương, thực tế cho thấy các sản phẩm giải trí hiện nay vẫn khá đơn điệu, chủ yếu xoay quanh các loại hình như quán bar, karaoke, dịch vụ massage, câu lạc bộ âm nhạc và sòng bạc. Điều này vô hình trung loại trừ nhóm khách gia đình và những du khách tìm kiếm trải nghiệm văn hóa có chiều sâu. Hệ quả là nhiều du khách chỉ lưu trú và chi tiêu chủ yếu trong phạm vi khách sạn mà họ lưu trú, thay vì tham gia cả các hoạt động bên ngoài.
So với châu Âu, nơi ngành du lịch đã phát triển trong khoảng năm thập kỷ, du lịch Việt Nam vẫn còn khá non trẻ. Các tiêu chuẩn về bền vững và “xanh” được áp dụng thiếu nhất quán, tình trạng tự công bố, tự tô vẽ, gắn nhãn “xanh” (greenwashing) diễn ra phổ biến, trong khi vẫn còn thiếu các cơ chế kiểm toán độc lập. Việc áp dụng minh bạch bắt buộc, chứng nhận từ bên thứ ba và các tiêu chuẩn có tính ràng buộc pháp lý là điều cần thiết nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng cường trách nhiệm giải trình và cải thiện hiệu quả môi trường.
Dịch vụ vận chuyển và hoạt động lữ hành cũng cần được nâng cấp. Nguồn nhân lực tiếp tục là một điểm yếu mang tính cấu trúc. Mức lương thấp, công tác đào tạo hạn chế và lộ trình nghề nghiệp thiếu rõ ràng đã dẫn tới tình trạng thiếu chuyên nghiệp và tỷ lệ nghỉ việc cao. Không ít doanh nghiệp quốc tế khai thác thị trường nhưng chưa đầu tư tương xứng vào phát triển nhân lực địa phương, khiến nhiều lao động có kỹ năng rời bỏ ngành.
Vấn đề này càng trở nên trầm trọng trong giai đoạn đại dịch, khi các đợt sa thải hàng loạt đã khiến nhiều nhân sự giàu kinh nghiệm rời khỏi lĩnh vực du lịch một cách lâu dài.
PV: Nhìn về 5-10 năm tới, theo ông, Việt Nam cần có những điều chỉnh chiến lược nào để du lịch văn hóa chuyển từ vai trò bổ trợ sang trở thành một trụ cột tăng trưởng độc lập và có năng lực cạnh tranh khu vực?
Ông Miquel Angel: Để nâng cao sức cạnh tranh trong ASEAN, Việt Nam cần triển khai một số giải pháp trọng tâm. Trong đó có việc bắt buộc áp dụng chứng nhận bền vững độc lập đối với tất cả doanh nghiệp du lịch, tăng cường quản lý và minh bạch dữ liệu thống kê, đồng thời nâng tỷ lệ khách quay trở lại sau lần đầu tiên.
Bên cạnh đó, cần củng cố và tập trung hóa một cơ quan xúc tiến du lịch quốc gia đủ mạnh để quảng bá hình ảnh đất nước một cách bài bản. Ngân sách dành cho xúc tiến du lịch hiện còn khá khiêm tốn so với các đối thủ cạnh tranh trong khu vực như Thái Lan, Malaysia hay Indonesia.
Việt Nam cũng cần làm giàu giá trị di sản văn hóa thông qua các hoạt động tương tác và trải nghiệm hấp dẫn hơn. Những ngôi nhà cổ cần được trùng tu, tuyến đường mòn Hồ Chí Minh, các lễ hội địa phương hay loại hình du lịch nông nghiệp đều có tiềm năng mang lại trải nghiệm đa dạng và giàu giá trị hơn so với các chuyến tham quan thuần túy mang tính tôn giáo.
PV: Xin cảm ơn ông vì những trao đổi này!
>