Vì sao Bộ tượng gốm men nhiều màu Tam quan Đại Đế được công nhận Bảo vật quốc gia?

Vì sao Bộ tượng gốm men nhiều màu Tam quan Đại Đế được công nhận Bảo vật quốc gia?
3 giờ trướcBài gốc
Bộ tượng gốm men nhiều màu Tam quan Đại đế (niên đại cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX), thuộc sưu tập tư nhân của ông Lê Thanh Nghĩa, TP.HCM
Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM cho biết, ngày 6.3.2026, đơn vị sẽ tổ chức Lễ công bố Quyết định của Thủ tướng Chính phủ công nhận Bảo vật quốc gia (đợt 14) theo Quyết định số 236/QĐ-TTg ngày 3.2.2026.
Theo quyết định này, trong tổng số 30 hiện vật, nhóm hiện vật được công nhận Bảo vật quốc gia đợt 14 trên toàn quốc, TP.HCM vinh dự có 1 hiện vật và 1 nhóm hiện vật thuộc các bảo tàng ngoài công lập và sưu tập tư nhân, gồm "Bát bồng gốm văn hóa Hoa Lộc" hiện lưu giữ tại Bảo tàng Gốm Thời Dựng Nước và "Bộ tượng gốm men nhiều màu Tam quan Đại đế" thuộc sưu tập tư nhân của ông Lê Thanh Nghĩa (TP.HCM).
Bộ tượng gốm men nhiều màu Tam quan Đại đế là một sưu tập hiện vật có giá trị đặc biệt, phản ánh sinh động trình độ kỹ thuật, tư duy thẩm mỹ và đời sống tín ngưỡng của cư dân Nam Bộ trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Không chỉ là hiện vật thờ tự, bộ tượng còn là kết tinh của tri thức bản địa, sự giao thoa văn hóa và quá trình hình thành đô thị Sài Gòn – Chợ Lớn.
Đỉnh cao kỹ nghệ gốm Sài Gòn cuối thế kỷ XIX – đầu XX
Bộ tượng gốm men nhiều màu Tam quan Đại đế được chế tác chủ yếu từ gốm men nhiều màu, trong đó men vàng – thường gọi dân gian là men da lươn giữ vai trò chủ đạo trên ba pho tượng chính: Thiên Quan, Địa Quan và Thủy Quan.
Nguyên liệu chính là đất sét dẻo khai thác từ các mỏ đất phù sa cổ dọc hệ thống kênh rạch Sài Gòn xưa, giàu các khoáng vật caolinit, illit và montmorillonite. Đây là loại đất có độ dẻo cao, khả năng tạo hình tốt, thích hợp cho các tác phẩm có kích thước lớn.
Bên cạnh đó, nghệ nhân còn phối trộn các nguyên liệu gầy nhằm kiểm soát độ co ngót, tăng khả năng chịu nhiệt và đảm bảo độ bền cơ học trong quá trình nung. Việc lựa chọn, xử lý và phối hợp nguyên liệu cho thấy sự am hiểu sâu sắc của nghệ nhân gốm Sài Gòn đối với đặc tính vật liệu bản địa, dung hòa kinh nghiệm truyền thống với những nguyên lý kỹ thuật mang tính khoa học.
Bộ tượng đã được trưng bày ra mắt công chúng theo chuyên đề “Tượng gốm Sài Gòn xưa – Nghệ thuật và di sản”, tại Bảo tàng Lịch sử TP.HCM năm 2025
Phần thân chính của ba pho tượng Đại đế và các ngai thờ được tạo tác bằng kỹ thuật nặn tay bằng dải cuộn – một phương pháp cổ truyền cho phép hình thành các khối tượng lớn thông qua việc cuộn, chồng và miết các dải đất sét. Để giảm rủi ro nứt vỡ khi nung và thuận lợi cho xử lý chi tiết phức tạp, phần thân tượng và lưng ngai được chế tác thành hai bộ phận riêng biệt rồi mới ghép lại.
Các chi tiết trang trí như mũ miện, khuôn mặt, bàn tay và họa tiết long bào được tạo bằng khuôn in, sau đó gắn chắp lên thân chính. Việc sử dụng khuôn giúp đảm bảo sự đồng nhất về biểu cảm, tư thế và quy chuẩn tạo hình trên toàn bộ sưu tập, đồng thời nâng cao hiệu suất sản xuất.
Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nặn tay và khuôn in thể hiện tư duy tổ chức sản xuất chuyên nghiệp, đạt tới trình độ tinh xảo cao của nghề gốm Sài Gòn thời kỳ này.
Bộ tượng thể hiện trình độ điêu luyện trong việc sử dụng hai dòng men đặc trưng. Men vàng (men da lươn) thuộc nhóm men tro – silicat, được chế tác từ các nguyên liệu địa phương như tro bếp, đất son và vôi, tạo nên sắc vàng trầm ấm, bền màu. Trong khi đó, các tượng thị giả được phủ men nhiều màu với bảng màu phong phú, hình thành nhờ việc kết hợp men nền với các oxit kim loại tạo màu.
Đặc biệt, kỹ thuật tô màu riêng từng chi tiết nổi và nung trong môi trường oxy hóa ở nhiệt độ cao giúp các lớp màu ổn định, không chảy lem, đạt độ bóng hoàn hảo. Đây là kỹ thuật phức tạp, chi phí cao, thường chỉ xuất hiện trong các sản phẩm tín ngưỡng – trang trí cao cấp. Với quy mô lớn và yêu cầu kỹ thuật cao, bộ tượng được nung trong những lò gốm tiên tiến bậc nhất tại Sài Gòn đương thời.
Bộ tượng gốm men nhiều màu gồm có 9 tượng, với 3 pho tượng Thiên Quan, Địa Quan, Thủy Quan và 6 tượng Thị giả.
Nhóm tượng Thủy Quan
Trong đó, Thủy Quan Đại đế được tạo hình đội mũ bình thiên, mặc long bào. Khuôn mặt tròn, mắt mô, miệng mỉm cười nhẹ, thể hiện sự cân bằng giữa uy nghiêm và nhân từ, phù hợp chức năng "Thủy Quan giải ách”, cứu giúp chúng sinh thoát khỏi tai ương. Long bào trang trí rồng hai vai, phía dưới có thủy ba, biểu trưng quyền lực cai quản thủy phủ.
Chi tiết nổi bật là phần yếm áo đắp nổi chữ Thọ dạng triện kết hợp hoa lá, liên kết chức năng giải ách với mong ước trường thọ và bình an, phản ánh sự bản địa hóa tín ngưỡng Nam Bộ. Pho tượng có minh văn “Đề Ngạn phụ” và “Bửu Nguyên tạo”, xác định nơi sản xuất và lò gốm. Hai thị giả đi kèm tạo hình trang nghiêm, góp phần hoàn chỉnh biểu tượng quyền lực thủy phủ.
Nhóm tượng Thiên Quan
Thiên Quan Đại đế thể hiện uy quyền tối cao qua hình tượng Ngài ngự trên ngai trong tư thế tĩnh tại, đội mũ phốc tròn, mặc long bào trang trí lưỡng long, mây và thủy ba, mang đai và hia.
Khuôn mặt phúc hậu, miệng mỉm cười nhẹ, mắt mở và tai lớn, biểu đạt phẩm chất nhân từ của đấng ban phát phước lành, phù hợp với chức năng "Thiên Quan tứ phúc”. Hình tượng này nhấn mạnh vai trò của Thiên Quan như vị thần tối cao tiếp nhận lời cầu xin và ban phúc cho nhân gian.
Hai thị giả đứng hầu hai bên, mặc áo dài có bổ tử chim phượng, trang trí mây và thủy ba, biểu trưng phẩm cấp quan văn. Một vị cầm bút, vị còn lại cầm sổ, thể hiện chức năng ghi chép và phê chuẩn phúc đức. Toàn bộ nhóm tượng phản ánh quan niệm về một trật tự thiên giới, nơi phúc lộc được quản lý và ban phát.
Nhóm tượng Địa Quan
Địa Quan Đại đế thể hiện uy quyền và sự nghiêm minh trong vai trò phán xét và xá tội. Ngài ngự trên ngai, đội mũ bình thiên, mặc long bào trang trí lưỡng long hai vai, dưới áo có thủy ba, mang đai và hia. Khuôn mặt tròn, mắt lồi, miệng hơi bặm, tạo vẻ uy nghiêm, phản ánh chức năng “Địa Quan xá tội” nhấn mạnh vai trò khảo xét, phán xử và quyết định việc xá tội đối với chúng sinh và vong hồn.
Minh văn trên bệ ghi “Đề Ngạn phụ” và “Bửu Nguyên tạo”, xác định nơi sản xuất và lò gốm. Hai thị giả đứng hấu hai bên, mặc áo có bổ tử chim phượng, cầm vật phẩm hoặc sổ, thể hiện vai trò phụ tả, góp phần hoàn chỉnh biểu tượng công lý và trật tự.
Căn cứ vào chất liệu, màu sắc, kỹ thuật chế tác, nghệ thuật trang trí và nhất là hiệu đề thể hiện trên hiện vật, qua so sánh, đối chiếu với tư liệu khảo cổ học, sách, bài nghiên cứu liên quan Hội đồng giám định và Hội đồng thẩm định đã thống nhất kết luận bộ tượng thuộc dòng gốm Sài Gòn xưa, niên đại cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX.
Sưu tập tượng thờ gốm Sài Gòn được chế tác từ lò gốm Bửu Nguyên, được xác định là một lò gốm tiêu biểu của dòng gốm Sài Gòn ở khu vực Chợ Lớn, nằm trên đường Lò Gốm (TP.HCM).
Lý do lựa chọn
Theo nhà sưu tập Lê Thanh Nghĩa - Chủ tịch Hội Cổ vật TP.HCM, chủ nhân Bộ tượng gốm men nhiều màu Tam quan Đại đế, Bộ tượng được lựa chọn để đề nghị công nhận Bảo vật quốc gia trước hết bởi đây là hiện vật gốc độc bản, có giá trị tiêu biểu cao, phản ánh tập trung và đầy đủ diện mạo của dòng gốm Sài Gòn – Chợ Lớn hình thành và phát triển mạnh vào cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX.
Trong giai đoạn này, hệ thống các lò gốm Sài Gòn phân bố dọc theo các tuyến sông, kênh, rạch – những trục giao thông huyết mạch của đô thị và vùng phụ cận, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, lưu thông và trao đổi hàng hóa.
Tượng gốm thờ là sản phẩm đạt đến trình độ cao nhất của kỹ nghệ gốm Sài Gòn, không chỉ phục vụ nhu cầu tín ngưỡng mà còn thể hiện năng lực tổ chức sản xuất và trình độ thẩm mỹ vượt trội của các lò gốm địa phương.
Bộ Tam quan Đại Đế của nhà sưu tập Lê Thanh Nghĩa là một bộ tượng thờ bằng gốm Sài Gòn hoàn chỉnh, nguyên gốc, còn đầy đủ các đơn nguyên gồm ba pho tượng chính và hệ thống tượng thị giả đi kèm. Trong thực tế, những bộ tượng thờ bằng gốm còn giữ được tính toàn vẹn như vậy là vô cùng hiếm gặp, bởi đa số hiện vật hiện nay chỉ còn tồn tại rời rạc dưới dạng tượng trang trí kiến trúc hoặc mảnh vỡ.
Bộ tượng này không chỉ là hiện vật trưng bày mà từng được sử dụng trực tiếp trong thực hành tín ngưỡng, mang đậm dấu ấn của Đạo giáo trong đời sống tinh thần cư dân Nam Bộ, đồng thời hiện vẫn được bảo quản trong tình trạng tốt.
Bộ tượng với nhiều giá trị tiêu biểu, phản ánh tập trung và đầy đủ diện mạo của dòng gốm Sài Gòn – Chợ Lớn hình thành và phát triển mạnh vào cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX
Một yếu tố đặc biệt quan trọng làm nên giá trị độc bản của sưu tập là nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng và có căn cứ trực tiếp trên hiện vật. Trên hai pho tượng trong bộ sưu tập còn lưu các dòng chữ đắp nổi cho biết nơi sản xuất là lò Bửu Nguyên (“Bửu Nguyên tạo”) và địa danh bến Đề Ngạn (“Đề Ngạn phụ”).
Đây là tư liệu quan trọng xác nhận thông tin cụ thể về nơi sản xuất của bộ tượng này, đồng thời khẳng định thêm về tính thống nhất của sưu tập hiện vật này là một bộ tượng thờ.
Bên cạnh tính nguyên gốc, bộ tượng còn được lựa chọn bởi hình thức nghệ thuật và kỹ thuật thể hiện mang tính độc đáo hiếm có. Trong truyền thống tín ngưỡng Nam Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung, tượng thờ thường được làm bằng gỗ (sơn son thếp vàng), đất hoặc đá; tượng thờ bằng gốm men là loại hình ít phổ biến, chỉ thực sự xuất hiện và phát triển vào cuối thế kỷ XIX – đầu XX, gắn liền với sự hình thành trung tâm sản xuất gốm Sài Gòn (gốm Cây Mai).
Việc sử dụng gốm men nhiều màu để tạo tác tượng thờ đã đem lại một sắc thái mới cho nghệ thuật tạo hình Nam Bộ, đánh dấu bước chuyển quan trọng từ đồ gốm dân dụng sang tượng thờ kỹ thuật cao.
Bộ tượng thể hiện rõ tư duy tạo hình tiến bộ thông qua việc kết hợp khuôn in với lắp ghép nhiều bộ phận, phủ men màu phong phú nhưng vẫn đảm bảo sự thống nhất chặt chẽ về bố cục và phong cách.
Đáng chú ý, trên nền gốm men, các pho tượng chính còn được phủ thêm lớp sơn son thếp vàng – kỹ thuật vốn dành cho tượng gỗ, cho thấy sự dung hợp tinh tế giữa nghề gốm và nghề sơn truyền thống. Đây là minh chứng sinh động cho quá trình giao thoa nghề nghiệp và văn hóa trong bối cảnh xã hội Nam Bộ cuối thế kỷ XIX.
Về mặt tạo hình, các pho tượng tuân thủ nghiêm ngặt quy chuẩn Đạo giáo Trung Hoa về phục trang, bố cục âm – dương và biểu tượng tôn giáo, song nét mặt lại dung dị, gần gũi, mang đặc điểm nhân dạng của người Việt.
Sự kết hợp này thể hiện quá trình bản địa hóa rõ nét, phản ánh cách cư dân Nam Bộ tiếp nhận và biến đổi các yếu tố văn hóa ngoại lai để phù hợp với bối cảnh xã hội và tâm thức bản địa.
Xét trên bình diện giá trị lịch sử, bộ tượng góp phần quan trọng trong việc xác định diện mạo gốm Sài Gòn gắn liền với quá trình hình thành và phát triển đô thị Sài Gòn – Chợ Lớn, mạng lưới thương mại đường sông và sự phát triển của các ngành thủ công nghiệp trong bối cảnh giao thoa văn hóa Đông – Tây.
Giá trị văn hóa nổi bật của Bộ tượng là sự kết hợp văn hóa Trung Hoa và Việt Nam trong bối cảnh tiếp xúc văn hóa phương Đông và phương Tây.
Một số góc chụp khác của bộ tượng
Sự kết hợp dung hòa giữa hai yếu tố Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian tạo nên hành vi tín ngưỡng riêng có trong cộng đồng cư dân người Việt ở Nam Bộ. Sự phát triển của truyền thống làm đồ gốm, kết hợp với nguyên liệu địa phương, phong cách tạo tác bản địa để làm ra các sản phẩm đa dạng đáp ứng mục đích - nhu cầu sử dụng khác nhau.
Về giá trị khoa học, sưu tập là nguồn tư liệu quý cho nghiên cứu khảo cổ học đô thị, lịch sử tín ngưỡng, kỹ thuật chế tác và tri thức bản địa.
Từ những giá trị nổi bật đó, bộ tượng gốm men nhiều màu Tam quan Đại Đế được đánh giá là sưu tập hiếm có, mang tính đại diện cao và có ý nghĩa quan trọng đối với việc nhận thức đầy đủ hơn về lịch sử – văn hóa vùng đất Sài Gòn – Chợ Lớn và Nam Bộ trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX.
THÙY TRANG
Nguồn Văn hóa : http://baovanhoa.vn/van-hoa/vi-sao-bo-tuong-gom-men-nhieu-mau-tam-quan-dai-de-duoc-cong-nhan-bao-vat-quoc-gia-207427.html