Những năm qua, Việt Nam duy trì là điểm đến hấp dẫn của dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) toàn cầu. Các tập đoàn đa quốc gia liên tục mở rộng đầu tư, đóng góp quan trọng trong quá trình đưa Việt Nam trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới sản xuất toàn cầu.
Tuy nhiên, phía sau bức tranh tăng trưởng là một nghịch lý lớn: hầu hết doanh nghiệp Việt Nam vẫn đứng ngoài chuỗi cung ứng toàn cầu, hoặc chỉ tham gia ở những khâu giá trị gia tăng thấp nhất.
Doanh nghiệp Việt ở đâu trong chuỗi cung ứng?
“Làm thế nào để doanh nghiệp Việt Nam tham gia được vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp nước ngoài?”.
Trước câu hỏi này, tại hội thảo về kinh tế tư nhân diễn ra tuần qua, TS Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE), đã thẳng thắn chỉ ra thực tế, sự kết nối giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước rất hạn chế, dù vấn đề này đã được đặt ra nhiều năm qua.
“Thậm chí, người ta còn nói hiện nay ở Việt Nam có hai nền kinh tế trong một nền kinh tế. Đấy là một nền kinh tế FDI với năng suất rất cao, xuất khẩu rất lớn, công nghệ hiện đại với một nền kinh tế trong nước đi sau và không tham gia kết nối được”, ông Tuấn nói.
Những con số đáng suy ngẫm được TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam đưa ra cũng phản ánh rõ nét vị trí thực tế của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Mức độ tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của doanh nghiệp Việt còn hạn chế.
Hiện Việt Nam có hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, nhưng chỉ khoảng 5.000 doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong số này, chỉ hơn 300 doanh nghiệp là nhà cung cấp cho các tập đoàn đa quốc gia, và chỉ hơn 100 doanh nghiệp trở thành nhà cung cấp cấp 1 (tier 1). Có tới 64,7% doanh nghiệp chưa chuẩn bị về công nghệ và quy trình để đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.
Đáng nói hơn nữa là, các số liệu từng được chuyên gia đưa ra từ 2 năm trước, cho thấy tốc độ cải thiện số lượng và chất lượng doanh nghiệp tham gia vào chuỗi ung ứng rất ì ạch.
Theo TS Lê Duy Bình, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam hiện vẫn tập trung ở các khâu gia công, lắp ráp – tức phần có giá trị gia tăng thấp nhất trong “đường cong nụ cười” của chuỗi giá trị toàn cầu.
“Chúng ta chưa vươn được lên những phần có giá trị gia tăng lớn hơn như ý tưởng, nghiên cứu phát triển, thương hiệu, thiết kế… Ngay cả ở các ngành như thời trang, dệt may vẫn chủ yếu làm gia công”, ông Bình nhận định.
Điều này đồng nghĩa, dù xuất khẩu tăng trưởng mạnh, giá trị mà doanh nghiệp nội địa giữ lại vẫn còn hạn chế. Phần lớn lợi nhuận, công nghệ và quyền kiểm soát chuỗi cung ứng vẫn nằm trong tay các tập đoàn nước ngoài.
Đáng chú ý, các chuyên gia cho rằng, Việt Nam không thiếu cơ hội tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhưng rào cản lớn nhất lại là năng lực nội tại của nền kinh tế và doanh nghiệp.
TS Lê Duy Bình dẫn loạt số liệu thực tế cho thấy, năng suất lao động của Việt Nam vẫn ở mức thấp, chỉ bằng khoảng 25% của Malaysia và khoảng 50% của Thái Lan. Khoảng 60 - 70% doanh nghiệp đang sử dụng công nghệ ở mức trung bình hoặc lạc hậu, khiến khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế bị hạn chế.
Bên cạnh đó, gần 80% lao động chưa có bằng cấp hoặc chứng chỉ nghề. Chi phí doanh nghiệp dành cho nghiên cứu và phát triển (R&D) cũng ở mức rất thấp, dưới 1% doanh thu, thấp hơn nhiều so với mức trung bình 3 - 5% ở các nền kinh tế có quy mô tương đương.
Những yếu tố trên lý giải vì sao doanh nghiệp Việt khó đạt được năng lực mà các "ông lớn" toàn cầu tìm kiếm.
Đáng lưu ý, theo TS Nguyễn Anh Tuấn, câu hỏi đầu tiên mà các doanh nghiệp FDI đặt ra luôn là: Nhà cung ứng Việt Nam có thể đáp ứng sản phẩm đảm bảo chất lượng, giá thành cạnh tranh và tiến độ giao hàng hay không?
Trao đổi với VnBusiness từ góc nhìn doanh nghiệp đã tham gia thành công vào chuỗi cung ứng toàn cầu, ông Trần Đức Tùng, Phó Tổng Giám đốc Hanel PT, Tổng Thư ký Hiệp hội Sản xuất Công nghiệp tỉnh Bắc Ninh cho biết, các doanh nghiệp FDI thường lựa chọn nhà cung ứng theo quy trình 3 bước: tìm kiếm, sàng lọc và đánh giá. Muốn tham gia chuỗi cung ứng, doanh nghiệp phải chủ động xuất hiện thông qua các hiệp hội ngành nghề, triển lãm chuyên ngành, nền tảng kết nối cung - cầu hoặc mạng lưới đối tác. Sau đó là hàng loạt vòng đánh giá nghiêm ngặt như kiểm toán nhà máy, đánh giá chất lượng, giá thành, tiến độ giao hàng và khả năng cải tiến.
Ông Trần Đức Tùng, Phó Tổng Giám đốc Hanel PT, Tổng Thư ký Hiệp hội Sản xuất Công nghiệp tỉnh Bắc Ninh.
Đáng chú ý, theo lãnh đạo Hanel PT, tiêu chí lựa chọn nhà cung ứng hiện nay đã thay đổi đáng kể. Giá rẻ không còn là yếu tố quyết định duy nhất. Các tập đoàn FDI ngày càng quan tâm toàn diện tới văn hóa hợp tác, mức độ cam kết, hệ thống quản trị, định hướng phát triển bền vững (ESG) và năng lực cải tiến. Điều này cho thấy cuộc cạnh tranh trong chuỗi cung ứng toàn cầu đang dịch chuyển từ cạnh tranh chi phí sang cạnh tranh bằng niềm tin, tính minh bạch và giá trị dài hạn.
Bài toán không chỉ của doanh nghiệp
Sau nhiều năm thu hút FDI, bài toán hiện nay của Việt Nam là doanh nghiệp nội địa sẽ đứng ở đâu trong chuỗi giá trị được tạo ra từ những dòng vốn đó.
Từ kinh nghiệm thực tiễn, Hanel PT đề xuất mô hình phát triển doanh nghiệp theo 3 tầng gồm: tầng giá trị (xây dựng văn hóa doanh nghiệp và cam kết ESG), tầng hệ thống (chuyển đổi số, quản trị minh bạch, sản xuất xanh) và tầng năng lực (chất lượng, chi phí, giao hàng và cải tiến). Đây được xem là lộ trình căn bản để doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam nâng cấp và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
“Doanh nghiệp không thể chờ được lựa chọn, mà phải chủ động xuất hiện, minh bạch và sẵn sàng được đánh giá theo chuẩn quốc tế”, Phó Tổng giám đốc Hanel PT nhấn mạnh.
Cũng cần nhìn nhận hạn chế của doanh nghiệp nội địa không chỉ xuất phát từ quy mô vốn hay công nghệ hay quản trị, mà còn liên quan đến chính sách hỗ trợ.
“Doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay rất khó khăn về vốn và công nghệ. Nếu không có chính sách hỗ trợ của Nhà nước thì tình trạng này sẽ còn kéo dài”, TS Nguyễn Anh Tuấn phân tích.
Ông cũng ví bài toán tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu giống như câu chuyện “con gà và quả trứng”. Doanh nghiệp muốn đầu tư máy móc, đổi mới công nghệ để đáp ứng yêu cầu của FDI thì cần vốn, nhưng muốn vay được vốn thì phải chứng minh đã tham gia được chuỗi cung ứng.
Trong khi đó, hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, thủ tục hành chính chồng chéo và chính sách công nghiệp hỗ trợ chưa đủ mạnh cũng đang trở thành rào cản đối với quá trình nâng cấp doanh nghiệp nội địa.
Do đó, chuyên gia cho rằng Việt Nam cần các công cụ chính sách đủ mạnh để thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, đồng thời nâng tỷ lệ nội địa hóa trong sản xuất.
Theo ông Tuấn, cần có các chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, đào tạo nhân lực và hỗ trợ nghiên cứu phát triển để khuyến khích các tập đoàn lớn hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam nâng cao trình độ công nghệ.
Mới đây, Bộ Công Thương đã ban hành quyết định phê duyệt Đề án tổ chức “Chuỗi sự kiện kết nối chuỗi cung ứng hàng hóa quốc tế 2026 - Viet Nam International Sourcing 2026”, diễn ra tại TP.HCM vào tháng 9 tới. Theo Bộ Công Thương, sự kiện tạo nền tảng để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất và cung ứng toàn cầu theo hướng bền vững, hiện đại và có giá trị gia tăng cao.
Trong bối cảnh hiện nay, đây là một trong những nỗ lực để thực hiện giải pháp mở rộng các kênh kết nối trực tiếp giữa doanh nghiệp Việt Nam với các tập đoàn quốc tế, tăng khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tuy nhiên, về dài hạn, những cơ hội như thế này sẽ chỉ có thể biến thành những bản hợp đồng thực sự khi các doanh nghiệp và chính sách cùng chuyển động mạnh mẽ hơn.
Doanh nghiệp nội địa vẫn chưa tích lũy đủ nguồn lực tài chính và công nghệ để tham gia sâu vào các khâu giá trị cao. Cùng với sự phụ thuộc lớn vào chuỗi cung ứng bên ngoài, điều này khiến nền kinh tế khó hình thành các “cụm giá trị” nội địa đủ mạnh để thu hút dòng vốn công nghệ cao. Hệ quả là, Việt Nam vẫn thu hút mạnh dòng vốn đầu tư, nhưng chủ yếu tập trung vào sản xuất, lắp ráp, những mô hình đã được kiểm chứng. Các lĩnh vực phức tạp, giá trị gia tăng cao vẫn phát triển nhưng chậm hơn, do môi trường chưa hội tụ đủ điều kiện để mở rộng ở quy mô lớn.
Ông Vlad Savin Giám đốc Acclime Việt Nam
Sự kết nối giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong tỉnh Thái Nguyên còn hạn chế, khiến chuỗi giá trị chưa hình thành rõ nét, hiệu ứng lan tỏa chưa cao. Vì vậy, để nâng “chất” dòng vốn FDI, Thái Nguyên cần tập trung phát triển công nghiệp hỗ trợ, đồng thời thúc đẩy kết nối thực chất giữa doanh nghiệp nội địa với nhà đầu tư nước ngoài. Năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu tăng từ 10-15% số doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi cung ứng FDI thông qua hỗ trợ công nghệ, đào tạo nhân lực và áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế như ISO, IATF. Đồng thời, xây dựng cơ sở dữ liệu doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, kết nối trực tiếp với doanh nghiệp FDI trên nền tảng số.
PGS.TS Nguyễn Tiến Long Đại học Thái Nguyên
Liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước còn yếu, tỷ lệ nội địa hóa thấp, năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế, hàm lượng công nghệ, R&D còn thấp. Bên cạnh đó, một số rào cản về thể chế, hạ tầng, nguồn nhân lực chưa được tháo gỡ triệt để, trong khi tình trạng cạnh tranh thu hút FDI theo số lượng giữa các địa phương vẫn còn lớn. Nếu những hạn chế này không được xử lý căn cơ, hiệu quả hợp tác FDI sẽ bị suy giảm, đồng thời hạn chế khả năng lan tỏa và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.
Ông Nguyễn Đức Hiển Phó trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương
Đỗ Kiều