Vì sao phụ nữ sống lâu hơn nhưng ốm đau nhiều hơn?

Vì sao phụ nữ sống lâu hơn nhưng ốm đau nhiều hơn?
2 giờ trướcBài gốc
Phụ nữ Việt Nam có tuổi thọ trung bình cao hơn nam giới. Đây là một thực tế tích cực, thường được xem như minh chứng cho sự tiến bộ về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và điều kiện sống nói chung.
Nhưng đằng sau con số tuổi thọ ấy lại tồn tại một nghịch lý ít được nhắc đến: phụ nữ sống lâu hơn, nhưng lại sống nhiều năm hơn trong tình trạng ốm đau, bệnh tật và suy giảm chất lượng sống.
Theo TS.BS Lê Thị Minh Thi, Trưởng Bộ môn Dân số - Sức khỏe sinh sản, Trường ĐH Y tế Công cộng, tại Việt Nam, theo số liệu của Cục thống kê, tuổi thọ trung bình của phụ nữ là 77,3, cao hơn nam giới (72,3) nên nữ sống thọ và sống một mình nhiều hơn so với nam giới.
Điều này được lý giải bởi phụ nữ sở hữu ưu thế di truyền và nội tiết estrogen mang lại lợi ích cho sức khỏe. Ngoài ra, theo các nghiên cứu trên thế giới, phụ nữ cũng ít các hành vi nguy cơ như tai nạn, hút thuốc, uống rượu… so với nam giới.
Tuy nhiên, theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), phụ nữ Việt Nam có trung bình 11 năm sống trong tình trạng bệnh tật, so với 8 năm ở nam giới. Điều này phản ánh sự thiếu hụt nhạy cảm giới trong đánh giá y tế: chúng ta đang kéo dài tuổi thọ nhưng chưa chưa thực sự khỏe mạnh, khiến phụ nữ sống lâu hơn nhưng phải đối mặt với các bệnh suy giảm chức năng và các bệnh đặc thù theo giới như các vấn đề liên quan tới sinh đẻ (trẻ) và các bệnh đặc thù khi về già như loãng xương, bệnh tự miễn và xương khớp.
Vì đâu dẫn đến nghịch lý sức khỏe giới này, TS.BS Lê Thị Minh Thi cho biết, theo các thống kê y tế, phụ nữ thường mắc nhiều bệnh mạn tính hơn nam giới, đặc biệt là các bệnh liên quan đến xương khớp, rối loạn nội tiết, lo âu, trầm cảm và đau mạn tính.
Trong khi đó, nam giới có tỷ lệ tử vong sớm cao hơn, chủ yếu do tai nạn, bệnh tim mạch cấp tính và các hành vi nguy cơ. Điều này dẫn đến một thực tế là nam giới có xu hướng "ra đi sớm hơn" còn phụ nữ thì "sống lâu hơn với bệnh tật".
Các chuyên gia y tế gọi đây là "nghịch lý tuổi thọ – chất lượng sống", phản ánh rõ sự khác biệt giới trong cách cơ thể bị tổn thương bởi điều kiện sống và vai trò xã hội.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), phụ nữ Việt Nam có trung bình 11 năm sống trong tình trạng bệnh tật, so với 8 năm ở nam giới. (Ảnh: Thành Long)
TS.BS Lê Thị Minh Thi cho biết, vai trò xã hội của phụ nữ Việt Nam là một yếu tố quyết định sức khỏe đặc trưng và đáng quan tâm. Báo cáo của ILO (2021) cho thấy phụ nữ Việt dành trung bình 20,2 giờ/tuần cho công việc nội trợ, gấp đôi nam giới. Như vậy, vai trò của phụ nữ như lao động kép và các công việc nội trợ không được trả lương và nhìn nhận xứng đáng.
Các ví dụ khác có thể kể tới ảnh hưởng các vấn đề sức khỏe phụ nữ và chất lượng cuộc sống như tư tưởng "hy sinh" và "ngại ngùng". Phụ nữ Việt thường tự gạt bỏ nhu cầu y tế cá nhân vì ưu tiên nguồn lực cho chồng con và gia đình để ưu tiên cho con cái và người được coi là "trụ cột kinh tế".
Theo Điều tra quốc gia 2019, gần 63% phụ nữ Việt có gia đình từng chịu ít nhất một hình thức bạo lực. Sự "bình thường hóa" bạo lực vì nỗi lo "xấu chàng hổ ai" khiến phụ nữ cam chịu các tổn thương tinh thần mạn tính, trực tiếp gây ra trầm cảm và các rối loạn tâm thể kéo dài.
Do bất bình đẳng giới còn tồn tại, nhiều phụ nữ bị "đổ lỗi" do không sinh được con trai trong khi rõ ràng giới tính của con là do người nam giới quyết định hoặc áp lực phải sinh bằng được con trai là một áp lực đáng kể đối với quyền sinh sản của phụ nữ cả ở nông thôn và thành thị. Điều này gây ra hệ quả cả về mặt xã hội khi số lượng phá thai (nữ) nhiều và mất cân bằng giới tính khi sinh nghiêm trọng tại một số vùng sinh thái tại Việt Nam hiện nay.
Phụ nữ Việt thường tự gạt bỏ nhu cầu y tế cá nhân vì ưu tiên nguồn lực cho chồng con và gia đình để ưu tiên cho con cái và người được coi là "trụ cột kinh tế".
"Những công việc không tên" tiêu tốn thời gian, năng lượng và cảm xúc, nhưng phần lớn không được trả lương và không được ghi nhận đúng mức. Bà Hoàng Thu Thủy (Cầu Giấy, Hà Nội) chia sẻ, năm nay bà 78 tuổi nhưng đã có đến 17 năm sống chung với bệnh xương khớp.
"Tôi bắt đầu thấy đau mỏi khớp, chân tay tê bì, đi lại không còn linh hoạt từ năm 60 tuổi. Nó cũng không phải là bệnh gì cần kíp phải chữa ngay, nên mình cứ sống chung. Những người cùng tuổi xung quanh khu phố nhà tôi cũng vậy, ai cũng có bệnh nào đó. Hơn nữa, tôi quen với việc đau nhức rồi. Đi khám cũng ngại, vì còn bao việc phải lo cho gia đình. Chỉ khi không chịu nổi nữa tôi mới đi bệnh viện."
Những cơn đau ấy không đến đột ngột. Chúng tích tụ theo năm tháng, như một dạng hao mòn sức khỏe chậm, mà phụ nữ thường chấp nhận như điều hiển nhiên.
Bà Nguyễn Vân Anh, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học về giới - gia đình - phụ nữ và trẻ em vị thành niên (CSAGA) nhận định, dù Việt Nam đã có Luật Bình đẳng giới và nhiều chính sách thúc đẩy quyền của phụ nữ, nhưng khoảng cách giữa quy định trên giấy và thực tế đời sống vẫn còn khá lớn. Một trong những biểu hiện rõ nhất là gánh nặng công việc không được trả lương trong gia đình mà phụ nữ phải đảm nhận.
Những công việc như nấu ăn, chăm sóc con cái, người già, việc nhà… chiếm rất nhiều thời gian và công sức, song thường không được nhìn nhận như một dạng lao động có giá trị kinh tế. Trên thế giới, nhiều nghiên cứu chỉ ra khối lượng lao động không lương của phụ nữ đóng góp đáng kể cho nền kinh tế, dù không được tính vào thu nhập hay GDP
Bà Nguyễn Vân Anh
"Những công việc như nấu ăn, chăm sóc con cái, người già, quán xuyến việc nhà… chiếm rất nhiều thời gian và công sức, song thường không được nhìn nhận như một dạng lao động có giá trị kinh tế. Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng khối lượng lao động không lương của phụ nữ đóng góp một tỷ lệ đáng kể cho nền kinh tế, dù không được tính vào thu nhập hay GDP", bà Vân Anh nói.
Ở Việt Nam, các khuôn mẫu và định kiến giới tồn tại lâu đời vẫn ảnh hưởng mạnh mẽ đến cách phân chia vai trò trong gia đình. Quan niệm "đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm" khiến nhiều người mặc định phụ nữ phải chịu trách nhiệm chính trong các công việc chăm sóc và nội trợ. Trong khi đó, thực tế hiện nay cho thấy phụ nữ cũng tham gia lao động, học tập và phấn đấu sự nghiệp như nam giới. Tuy nhiên, khi bước vào đời sống hôn nhân, nhiều giá trị bình đẳng lại bị phá vỡ, bởi phần lớn việc nhà và trách nhiệm chăm sóc gia đình vẫn dồn lên vai người phụ nữ.
Ở khía cạnh khác, bà Vân Anh cho biết, không chỉ phụ nữ, nam giới cũng chịu những áp lực từ các khuôn mẫu giới truyền thống. Họ thường bị kỳ vọng phải là trụ cột kinh tế, phải mạnh mẽ và không được bộc lộ cảm xúc yếu đuối. Những chuẩn mực này đôi khi khiến nam giới khó chia sẻ cảm xúc hoặc tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp khó khăn. Vì vậy, bình đẳng giới không chỉ là câu chuyện của phụ nữ, mà là quá trình tháo gỡ các định kiến xã hội để cả nam và nữ đều có cơ hội phát triển và sống đúng với nhu cầu của mình.
Quan niệm "đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm" khiến nhiều người mặc định phụ nữ phải chịu trách nhiệm chính trong các công việc chăm sóc và nội trợ.
TS.BS Lê Thị Minh Thi phân tích, phụ nữ ngoài các yếu tố trên còn sự "bình thường hóa" bệnh lý và gặp rào cản xã hội đặc trưng. Ví dụ, trong văn hóa gia đình truyền thống, phụ nữ thường là người "ăn sau, ăn ít hoặc ăn cố thức ăn dư thừa", ưu tiên thực phẩm dinh dưỡng cho chồng con. Sự thiếu hụt vi chất kéo dài (đặc biệt là sắt và canxi qua các kỳ kinh nguyệt, sinh đẻ) kết hợp với lao động nặng nhọc làm gia tăng tỷ lệ thiếu máu và loãng xương sớm.
Một nghiên cứu tại Bệnh viện K (2020) cho thấy khoảng 70% bệnh nhân ung thư vú/cổ tử cung đến viện ở giai đoạn muộn. Định kiến về "đức hy sinh" khiến các triệu chứng bệnh lý mạn tính bị xã hội và chính phụ nữ bình thường hóa. Tại Việt Nam, người bệnh ung thư vú đến viện khám ở giai đoạn muộn (III hoặc IV) do tâm lý trì hoãn trong khi bệnh này có thể điều trị khỏi nếu được phát hiện ở giai đoạn sớm.
Ngoài rào cản kinh tế, sự e ngại khi trao đổi về sức khỏe sinh sản, tình dục với bạn đời và nhân viên y tế là rào cản tâm lý cực lớn ví dụ, thay vì đi khám phụ khoa, phụ nữ tự đi mua thuốc uống/đặt dẫn tới các bệnh mạn tính trong viêm đường sinh sản.
"Tại một số vùng nông thôn, nơi nhà vệ sinh trong trường học chưa được đảm bảo, trong nghiên cứu của trường Đại học Y tế công cộng và tổ chức Plan quốc tế (2023-24) thực hiện về quản lý vệ sinh kinh nguyệt tại Hà Nội và Quảng Bình, nhiều học sinh nữ không thoải mái trong kì kinh nguyệt tại trường do nhà vệ sinh không riêng tư, không sạch hoặc đơn giản không có thùng rác trong nhà vệ sinh trường học. Có một số em học sinh nữ (ngay tại Hà Nội) phải cho băng vệ sinh đã sử dụng vào túi và mang về nhà vứt, hoặc nhịn đi vệ sinh tại trường. Một số nhà vệ sinh trường học còn bị mất chốt cửa khiến các em phải rủ bạn canh cửa hoặc một tay giữ cửa khi đang đi vệ sinh. Do vậy, để hạn chế sử dụng nhà vệ sinh, nhiều em gái quyết định nhịn uống nước hoặc nhịn tới thời điểm đi học về nhà mới đi vệ sinh. Điều này ảnh hưởng đáng kể tới sức khỏe cả thể chất và tinh thần của học sinh nữ", TS. BS Minh Thi cho hay.
Theo TS.BS Lê Thị Minh Thi, hiện nay, Y học hiện đại đang nỗ lực xóa bỏ "điểm mù" này thông qua việc xem xét đồng đều 2 giới nam và nữ khi đưa vào mẫu phân tích và có xem xét kĩ hơn yếu tố giới. Tuy vậy, yếu tố giới trong các báo cáo phân tích vẫn chưa được xem xét đầy đủ. Đa số các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở thống kê tỷ lệ đơn giản hoặc can thiệp mang tính bình đẳng (bằng nhau) hơn là công bằng giới (quan tâm tới sự khác biệt giới nên cần có đáp ứng cụ thể) nên có thể có các sai lệch mà chưa phân tích sâu các can thiệp đáp ứng giới.
TS.BS Minh Thi nêu ví dụ, để đảm bảo theo quan điểm "như nhau" "bằng nhau", thiết kế nhà vệ sinh công cộng (trường học, cơ quan, sân bay…) hiện nay thường theo tỷ lệ diện tích nhà với nam và nữ là 1:1. Thực tế, nghiên cứu tại Hà Lan (2017) (cũng như tại Việt nam) chứng minh phụ nữ cần thời gian đi vệ sinh lâu hơn nam giới gấp 1,5 - 2 lần (do cấu tạo sinh học bàng quan lớn hơn, vệ sinh kinh nguyệt...).
Các thiết kế bệt tiểu nữ (thiết kế để không gian mở như nam) rất không phù hợp cho nữ giới và hầu như bị bỏ qua không được sử dụng. Việc thiếu không gian riêng tư, đạt chuẩn (ví dụ cho vệ sinh và vệ sinh kinh nguyệt) tại trường học/bệnh viện/nơi công cộng khiến trẻ em gái và phụ nữ có xu hướng "nhịn", dẫn đến tỷ lệ nhiễm khuẩn đường tiết niệu cao hoặc gây quá tải tại nhà vệ sinh công cộng trong khi nhà vệ sinh nam lại trống nhiều hơn.
Một ví dụ khác, nghiên cứu trên The Lancet chỉ ra phụ nữ có khả năng bị chẩn đoán sai cơn đau tim cao hơn 50% vì triệu chứng mệt mỏi, khó thở thường bị coi là "rối loạn lo âu". Các nghiên cứu, đề án khác hiện nay cần xem xét tính 'giới" trong nghiên cứu và ứng dụng.
Theo TS.BS Lê Thị Minh Thi, để phụ nữ Việt sống "khỏe" chứ không chỉ sống "lâu", cần một lộ trình thực thi thấu đáo từ chính sách tới truyền thông và thực thi ở các cấp độ
Cần thúc đẩy tư duy phụ nữ vươn lên, nhận thức rằng chăm sóc bản thân là kỹ năng rất quan trọng. Sự tự chủ của phụ nữ và trẻ em gái là động lực then chốt để xã hội tạo lập môi trường tiến bộ hơn ví dụ: khuyến khích sử dụng công nghệ để theo dõi kì kinh nguyệt hoặc lập kế hoạch khám sức khỏe định kì, giáo dục sức khỏe nhằm đảm bảo an toàn tình dục và sức khỏe sinh sản, dành thời gian cho thể dục và thư giãn.
Nên định hình lại truyền thông và ngày 8/3: Loại bỏ khẩu hiệu gây áp lực như "Giỏi việc nước, đảm việc nhà". Tái định nghĩa Ngày Quốc tế Phụ nữ theo đúng tinh thần thế giới là ngày nhìn nhận các bất bình đẳng giới còn tồn tại, thúc đẩy thông điệp "Ưu tiên sức khỏe phụ nữ" và các chương trình hướng tới công bằng hơn cho phụ nữ.
Tiếp cận dịch vụ mang tính giới bằng xây dựng mô hình dịch vụ y tế tích hợp— một quy trình "một điểm dừng" giúp phụ nữ tầm soát đa mục tiêu (sức khỏe tổng quát, ung thư, xương khớp, tâm lý, bạo lực…) trong cùng một buổi khám định kì, giúp xóa bỏ sự ngại ngùng và tối ưu hóa thời gian.
Xây dựng các chính sách hướng tới công bằng giới, trong đó quan tâm tới sự khác biệt và có tính tới nhạy cảm giới. Ví dụ lãnh đạo đa số là nam giới nên quan tâm và đảm bảo các hạ tầng mang tính giới như thiết kế nhà vệ sinh công cộng (trường học, bệnh viện, sân bay, …), các thiết kế trang thiết bị làm việc (bàn làm việc, trang thiết bị làm việc..) phù hợp cho nữ giới nhằm sử dụng thuận tiện hơn, riêng tư và thoải mái hơn.
Các cơ quan cần thiết lập các cơ chế bảo vệ phụ nữ bắt buộc như chính sách chống phân biệt đối xử trong tuyển dụng, trong việc làm và chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và không gian mạng.
Chính sách y tế và xã hội cũng cần lưu ý nhạy cảm giới trong cung cấp dịch vụ và cân nhắc chuẩn bị dành cho già hóa dân số (với tỷ lệ nữ cao hơn hẳn nam giới).
Cần lập ngân sách có nhạy cảm giới (Gender Budgeting). Ngân sách cần ưu tiên cho hạ tầng đáp ứng giới và các chương trình xã hội thấu đáo. Mọi khoản chi công cần được thẩm định qua lăng kính: "Khoản chi này có giúp thu hẹp khoảng cách bất bình đẳng giới hay không?".
Nhạy cảm giới chính là giải pháp khoa học và quan trọng để nâng cao tuổi thọ khỏe mạnh. Một xã hội công bằng là nơi chính sách và ngân sách được phát triển để phụ nữ không phải "nhẫn nhịn" mà được tạo điều kiện để sống khỏe mạnh thực sự, tự chủ và tỏa sáng.
Theo bà Nguyễn Thị Vân Anh, để thu hẹp khoảng cách giữa chính sách và thực tế, cần thay đổi nhận thức xã hội về vai trò của nam và nữ trong gia đình. Việc chia sẻ công việc chăm sóc và nội trợ cần được coi là trách nhiệm chung của cả hai. Đồng thời, giáo dục và các chương trình kiến thức tiền hôn nhân cũng rất cần thiết, giúp các cặp đôi hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụ và cách xây dựng một gia đình bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. Khi những định kiến cũ dần được thay đổi, bình đẳng giới mới có thể đi vào đời sống một cách thực chất.
Theo các chuyên gia, tuổi thọ là một chỉ số quan trọng, nhưng chất lượng sống mới là thước đo thực sự của tiến bộ y tế và xã hội. Một xã hội không thể coi là công bằng nếu một nửa dân số phải sống lâu hơn trong đau đớn và mệt mỏi.
Bình đẳng giới nhìn từ sức khỏe vì thế không chỉ là câu chuyện quyền lợi, mà là câu chuyện công bằng trong phân bổ rủi ro và chăm sóc. Khi phụ nữ được chia sẻ gánh nặng chăm sóc, được lắng nghe khi cơ thể lên tiếng, được tiếp cận dịch vụ y tế kịp thời và phù hợp giới, thì tuổi thọ cao mới thực sự là một thành tựu đáng tự hào.
Tác giả: Nguyên Thủy - Tô Hội
Đồ họa: Hoàng Việt
Ảnh: Vũ Đồng - Thành Long
Nguồn SK&ĐS : https://suckhoedoisong.vn/vi-sao-phu-nu-song-lau-hon-nhung-om-dau-nhieu-hon-169260326144026241.htm