Cuối thập niên 1950, khi Liên Xô liên tục đưa vào biên chế các dòng xe tăng chủ lực T-54 và T-55 với thiết kế nhỏ gọn, quân đội Mỹ bắt đầu lo ngại ưu thế thiết giáp của đối phương tại châu Âu.
Để đối phó nguy cơ chiến tranh quy mô lớn trên lục địa này, Mỹ khởi động chương trình phát triển xe tăng chủ lực M60 Patton.
Năm 1960, xe tăng chủ lực M60 Patton chính thức được đưa vào biên chế quân đội Mỹ. Đây là phiên bản phát triển sâu từ xe tăng chủ lực M48 Patton trước đó nhưng được nâng cấp mạnh về hỏa lực, giáp bảo vệ và hệ thống động lực.
Ngay từ khi xuất hiện, M60 nhanh chóng gây chú ý vì kích thước lớn. Xe có chiều cao 3,27 m tính tới nóc tháp pháo, cao hơn đáng kể so với xe tăng chủ lực T-62 của Liên Xô chỉ cao 2,4 m.
Sự chênh lệch này bắt nguồn từ khác biệt chiến lược quân sự giữa 2 cường quốc trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.
Quân đội Mỹ ưu tiên khả năng chiến đấu đường dài, độ chính xác khi khai hỏa và khả năng sống sót của kíp lái trong các chiến dịch quy mô lớn.
Vì vậy, khoang chiến đấu của M60 được thiết kế rộng rãi hơn để 4 thành viên vận hành hiệu quả trong thời gian dài.
Trong khi đó, Liên Xô lại ưu tiên sản xuất xe tăng thấp, nhỏ gọn và khó bị phát hiện trên chiến trường. Các dòng xe tăng Liên Xô chấp nhận không gian bên trong chật hẹp để giảm diện tích trúng đạn.
Một yếu tố khác khiến M60 cao lớn là tháp pháo đồ sộ để mang pháo nòng xoắn 105 mm M68.
Đây là phiên bản Mỹ hóa từ pháo L7 nổi tiếng của Anh, từng được đánh giá là một trong những loại pháo tăng mạnh nhất phương Tây thời điểm đó.
Để bảo đảm tốc độ bắn cao và thao tác thuận lợi, xe tăng chủ lực M60 Patton sử dụng nạp đạn thủ công thay vì máy nạp đạn tự động như nhiều xe tăng Liên Xô.
Điều này buộc tháp pháo phải đủ rộng cho pháo thủ và nạp đạn viên hoạt động.
Ngoài ra, M60 còn mang theo lượng lớn đạn pháo, nhiên liệu và thiết bị điện tử, khiến kích thước thân xe tiếp tục tăng lên.
Xe sử dụng động cơ diesel Continental AVDS-1790 công suất 750 mã lực, cho phép đạt tốc độ tối đa 48 km/h.
Trọng lượng chiến đấu của M60 đạt 52 tấn, lớn hơn đáng kể so với nhiều dòng tăng Liên Xô cùng giai đoạn.
Trong chiến tranh Trung Đông giai đoạn từ thập niên 1960 tới 1980, xe tăng chủ lực M60 Patton được Israel và nhiều đồng minh Mỹ sử dụng rộng rãi.
Tại các chiến trường sa mạc, không gian rộng bên trong giúp kíp lái hoạt động hiệu quả hơn trong điều kiện nhiệt độ khắc nghiệt.
Tuy nhiên, thân xe cao cũng khiến M60 dễ bị phát hiện hơn trên chiến trường. Trong các cuộc đối đầu với tên lửa chống tăng và pháo chống tăng hiện đại, diện tích lớn trở thành nhược điểm đáng kể.
Bước sang thập niên 1980, quân đội Mỹ bắt đầu thay thế M60 bằng xe tăng chủ lực M1 Abrams hiện đại hơn.
Dù vậy, nhiều quốc gia vẫn tiếp tục nâng cấp và sử dụng M60 tới tận ngày nay nhờ độ bền cao và khả năng nâng cấp linh hoạt.
Giới chuyên gia quân sự nhận định thiết kế cao lớn của M60 không phải sai lầm kỹ thuật mà là kết quả từ triết lý chiến tranh đặc trưng của Mỹ.
Trong giai đoạn đối đầu với Liên Xô, Washington ưu tiên hỏa lực, khả năng tác chiến liên tục và sự thoải mái cho kíp chiến đấu hơn là tối ưu kích thước nhỏ gọn như trường phái thiết kế tăng thiết giáp của Moskva.
Việt Hùng