Dự thảo gồm 5 Chương, 18 Điều, tập trung quy định rõ nguyên tắc, danh mục vị trí việc làm khung, trình tự, thủ tục xác định, thẩm quyền phê duyệt và cơ chế quản lý, sử dụng vị trí việc làm.
Giáo viên là viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập chịu ảnh hưởng bởi Nghị định quy định về vị trí việc làm viên chức khi Nghị định này có hiệu lực.
Những nội dung mới tại dự thảo Nghị định
Thứ nhất, Điều 5 quy định về bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm như sau:
Điều 5. Bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm
1. Bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm là mức độ phát triển nghề nghiệp của viên chức trong cùng một vị trí việc làm, được xác định trên cơ sở mức độ phức tạp của nhiệm vụ, kết quả, sản phẩm công việc, mức độ đáp ứng khung năng lực và phạm vi trách nhiệm, ảnh hưởng chuyên môn.
2. Hệ thống bậc nghề nghiệp của từng vị trí việc làm được quy định thống nhất trong Danh mục vị trí việc làm tại Phụ lục II, Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này, áp dụng chung trong toàn quốc; cơ quan, tổ chức, đơn vị không được tự thiết kế, bổ sung hoặc thay đổi hệ thống bậc của vị trí việc làm; không bắt buộc sử dụng đầy đủ các bậc trong mọi vị trí việc làm.
3. Viên chức được bố trí vào một bậc nghề nghiệp cụ thể trong vị trí việc làm phù hợp với năng lực và yêu cầu công việc. Việc thay đổi bậc nghề nghiệp đối với viên chức không làm thay đổi vị trí việc làm áp dụng đối với viên chức đó.
4. Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định về chức danh, tiêu chuẩn chuyên môn, chuẩn nghề nghiệp hoặc điều kiện hành nghề thì các nội dung này được tích hợp vào yêu cầu của các bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm; không tổ chức hệ thống chức danh viên chức chuyên ngành như một hệ thống quản lý độc lập song song với hệ thống vị trí việc làm.
Thứ hai, Điều 7 quy định mối quan hệ giữa vị trí việc làm viên chức quản lý và vị trí việc làm viên chức chuyên môn, nghiệp vụ như sau:
1. Nhiệm vụ chuyên môn của vị trí việc làm viên chức quản lý được xây dựng theo nhiệm vụ chuyên môn của vị trí việc làm viên chức chuyên môn, nghiệp vụ tương ứng với lĩnh vực hoạt động sự nghiệp mà viên chức được giao phụ trách.
2. Viên chức được bố trí vào vị trí việc làm quản lý không làm thay đổi hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của viên chức; viên chức quản lý có trách nhiệm duy trì, phát triển năng lực chuyên môn, nghiệp vụ trong thời gian giữ chức vụ quản lý.
3. Khi thôi giữ vị trí việc làm quản lý, viên chức được xem xét bố trí vào vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đã được đánh giá theo quy định.
4. Việc xếp lương đối với viên chức quản lý theo chức danh chuyên môn, nghiệp vụ đang giữ phải bảo đảm phù hợp với mức độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, khung năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của vị trí việc làm viên chức chuyên môn, nghiệp vụ tương ứng.
Thứ ba, Điều 9 quy định tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm
1. Việc xác định tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm phải được thực hiện bảo đảm:
a) Phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, mức độ phức tạp của hoạt động sự nghiệp và yêu cầu về chất lượng, khối lượng, sản phẩm đầu ra;
b) Gắn với chiến lược phát triển của đơn vị sự nghiệp công lập, lộ trình nâng cao chất lượng đội ngũ và yêu cầu đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số;
c) Bảo đảm cân đối hợp lý giữa các bậc nghề nghiệp trong từng vị trí việc làm, phản ánh đúng cấu trúc năng lực của đội ngũ;
d) Bảo đảm tính linh hoạt, thích ứng với sự thay đổi của yêu cầu nhiệm vụ.
2. Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt vị trí việc làm quyết định tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc phát triển nghề nghiệp của vị trí việc làm như sau:
a) Đối với đơn vị sự nghiệp công lập do nhà nước bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên: Tỷ lệ bố trí ở bậc cao nhất trong từng vị trí việc làm được sử dụng không vượt quá 1/3 tổng số biên chế sự nghiệp được giao của đơn vị sự nghiệp, trừ trường hợp đặc thù do cấp có thẩm quyền quyết định.
b) Đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, tự bảo đảm chi thường xuyên và tự bảo đảm một phần chi thường xuyên: Tỷ lệ được xác định phù hợp với yêu cầu hoạt động và khả năng tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập, không khống chế tỷ lệ theo từng bậc.
Thứ tư, Điều 17 quy định điều khoản chuyển tiếp, áp dụng, thi hành như sau:
1. Chậm nhất đến ngày 01 tháng 7 năm 2027, các bộ, ngành, cơ quan trung ương, địa phương, đơn vị sự nghiệp công lập (trong trường hợp được phân cấp, ủy quyền) phải hoàn thành các công việc sau:
a) Ban hành quyết định phê duyệt vị trí việc làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý theo quy định tại Nghị định này để thay thế các quyết định về vị trí việc làm đã ban hành trước đó;
Trong thời gian cơ quan, đơn vị có thẩm quyền chưa ban hành quyết định phê duyệt vị trí việc làm viên chức theo quy định tại Nghị định này, các quyết định phê duyệt vị trí việc làm ban hành trước đó được tiếp tục áp dụng trong quá trình tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức.
b) Bố trí viên chức vào vị trí việc làm theo danh mục vị trí việc làm đã được phê duyệt theo quy định tại Nghị định này đối với viên chức được tuyển dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2026 thuộc phạm vi quản lý.
2. Trong thời gian cấp có thẩm quyền chưa ban hành văn bản thực hiện chế độ tiền lương mới đối với viên chức thì bậc, hệ số lương của chức danh viên chức theo quy định của pháp luật về tiền lương hiện hành được sử dụng làm căn cứ kỹ thuật chuyển tiếp để xếp lương và thực hiện chế độ, chính sách tiền lương đối với viên chức được tuyển dụng, bố trí vào vị trí việc làm quy định tại Nghị định này. Viên chức được tuyển dụng theo quy định của Luật Viên chức số 129/2025/QH15 áp dụng chế độ tiền lương hiện hành ở bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm được tuyển dụng quy định tại Nghị định này như sau:
a) Bậc 1 xếp lương tương đương ngạch nhân viên;
b) Bậc 2 xếp lương tương đương ngạch cán sự;
c) Bậc 3 xếp lương tương đương ngạch chuyên viên;
d) Bậc 4 xếp lương tương đương ngạch chuyên viên chính;
đ) Bậc 5 xếp lương tương đương ngạch chuyên viên cao cấp.
3. Viên chức được bổ nhiệm vào vị trí việc làm quản lý quy định tại Nghị định này được xếp lương theo bậc, hệ số lương của chức danh viên chức chuyên môn đang giữ theo quy định của pháp luật về tiền lương hiện hành.
4. Viên chức đang xếp lương theo các hạng chức danh nghề nghiệp chuyển sang bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm quy định tại Nghị định này và thực hiện xếp lương như sau:
a) Chuyển vào bậc 1 đối với trường hợp đang xếp lương tương đương ngạch nhân viên và tiếp tục xếp lương theo bậc, hệ số lương đang xếp;
b) Chuyển vào bậc 2 đối với trường hợp đang xếp lương tương đương ngạch cán sự và tiếp tục xếp lương theo bậc, hệ số lương đang xếp;
c) Chuyển vào bậc 3 đối với trường hợp đang xếp lương tương đương ngạch chuyên viên và tiếp tục xếp lương tương theo bậc, hệ số lương đang xếp;
d) Chuyển vào bậc 4 đối với trường hợp đang xếp lương tương đương ngạch chuyên viên chính và tiếp tục xếp lương theo bậc, hệ số lương đang xếp;
đ) Chuyển vào bậc 5 đối với trường hợp đang xếp lương tương đương ngạch chuyên viên cao cấp và tiếp tục xếp lương theo bậc, hệ số lương đang xếp.
4. Kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, không áp dụng các quy định về hạng chức danh nghề nghiệp, tiêu chuẩn hạng chức danh nghề nghiệp viên chức đã ban hành trước đó.
5. Trường hợp cấp có thẩm quyền ban hành chế độ tiền lương mới theo vị trí việc làm thì việc chuyển xếp lương đối với viên chức được thực hiện theo quy định và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền.
6. Trường hợp văn bản dẫn chiếu tại Nghị định này được thay thế thì thực hiện theo văn bản mới thay thế đó.
Phan Anh