Như PLO đưa tin, Công an đã triệt phá đường dây buôn lậu hơn 50 tấn caffeine xuyên quốc gia để sản xuất ma túy. Theo điều tra ban đầu, đường dây buôn lậu này có sự tham gia của một cựu Trưởng khoa Dược, Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương.
Đáng chú ý, các đối tượng đã lợi dụng sự khác biệt pháp luật giữa các nước, đưa caffeine từ Trung Quốc vào Việt Nam rồi trung chuyển sang Lào, Myanmar để sản xuất các loại ma túy tổng hợp.
Tại Trung Quốc, caffeine quy định là chất hướng thần. Tại Lào, caffeine quy định là tiền chất ma túy (hành vi mua bán, vận chuyển caffeine với số lượng 10kg trở lên có mức hình phạt cao nhất là tử hình). Tại Việt Nam caffeine được cấp phép cho các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh với mục đích y, dược, thực phẩm hoặc sử dụng trong công nghiệp (chưa coi là tiền chất ma túy).
Caffeine thường được sử dụng để tăng khối lượng
Theo cơ quan chức năng, tình hình tội phạm ma túy sử dụng các chất phụ gia, chất pha trộn và chất độn (trong đó có caffeine) trong quá trình điều chế, pha trộn và đóng gói ma túy tổng hợp đang diễn biến ngày càng phức tạp, đặt ra nhiều thách thức đối với công tác phát hiện, giám định, quản lý và xử lý tội phạm.
Caffeine được các đối tượng ngụy trang trong các bao tải thức ăn chăn nuôi, vận chuyển đi sang Lào tiêu thụ. Ảnh: CA
Trong hoạt động sản xuất, pha chế trái phép các loại ma túy tổng hợp như methamphetamine, MDMA hoặc các dạng ma túy núp bóng dưới tên gọi “nước vui”, “trà sữa”, caffeine không phải là tiền chất tạo thành ma túy mà thường được sử dụng với vai trò chất pha trộn, chất độn hoặc phụ gia. Việc bổ sung caffeine vào ma túy nguyên chất giúp các đối tượng làm tăng khối lượng, thể tích sản phẩm, từ đó nâng cao lợi nhuận bất chính.
Việc pha trộn caffeine cho phép các đối tượng giảm tỷ lệ hoạt chất ma túy thực tế trong sản phẩm nhưng vẫn tạo cảm giác kích thích nhất định đối với người sử dụng. Trong một số trường hợp, caffeine còn được sử dụng nhằm hỗ trợ quá trình tạo hình, tăng độ cứng hoặc ổn định cấu trúc đối với ma túy dạng viên nén.
Caffeine là chất có tác dụng kích thích hệ thần kinh trung ương, làm tăng mức độ tỉnh táo, nhịp tim và hoạt động thần kinh. Khi xuất hiện trong hỗn hợp chứa ma túy tổng hợp, caffeine có thể làm thay đổi hoặc tăng cường cảm nhận chủ quan của người sử dụng về tác dụng kích thích. Tuy nhiên, mức độ tác động phụ thuộc vào hàm lượng, cách phối trộn và từng loại chất ma túy cụ thể. Việc sử dụng hỗn hợp nhiều chất kích thích khác nhau làm gia tăng nguy cơ ngộ độc cấp tính, rối loạn tâm thần và các biến chứng tim mạch nguy hiểm.
Hiện nay, việc mua bán và lưu thông caffeine tương đối phổ biến do đây là chất được sử dụng hợp pháp trong lĩnh vực thực phẩm, dược phẩm và công nghiệp. Tuy nhiên, chính tính phổ biến này có thể bị các đối tượng lợi dụng để thu mua với số lượng lớn phục vụ hoạt động pha trộn ma túy. Do phạm vi ứng dụng rộng, cơ quan chức năng gặp khó khăn trong việc kiểm soát mục đích sử dụng cuối cùng của chất này.
Thực tế công tác đấu tranh thời gian qua cho thấy trong một số vụ án ma túy do lực lượng Công an triệt phá tại TP.HCM và các địa phương lân cận, nhiều loại ma túy tổng hợp núp bóng dưới dạng “nước vui”, “trà sữa” được phát hiện chứa hỗn hợp nhiều chất khác nhau như methamphetamine, ketamine, MDMA cùng các chất pha trộn khác, trong đó có caffeine. Việc phối trộn nhiều hoạt chất trong cùng một sản phẩm không chỉ gây khó khăn cho công tác giám định mà còn làm tăng nguy cơ gây tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe người sử dụng.
Bộ Công an cũng nhiều lần cảnh báo về thủ đoạn lợi dụng các chất hóa học hoặc phụ gia không thuộc diện kiểm soát đặc biệt để phục vụ hoạt động phạm tội về ma túy. Hiện nay, danh mục chất ma túy và tiền chất được quy định tại Nghị định 28/2026/NĐ-CP. Tuy nhiên, đối với các chất có mục đích sử dụng dân sự rộng rãi như caffeine, việc kiểm soát và phát hiện dấu hiệu sử dụng sai mục đích vẫn đặt ra nhiều khó khăn cho lực lượng chức năng.
Cần cân nhắc kỹ khi coi caffeine là tiền chất ma túy
Với thực tế đó, TS Trần Thanh Thảo, Giảng viên khoa Luật Hình sự, Trường ĐH Luật TP.HCM, cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, việc không đưa caffeine vào danh mục tiền chất ma túy là phù hợp.
Thứ nhất, xét về mặt khái niệm, tiền chất ma túy là các hóa chất có vai trò thiết yếu trong quá trình sản xuất, điều chế hoặc tổng hợp chất ma túy, tức tham gia trực tiếp vào phản ứng hóa học tạo ra chất ma túy thành phẩm.
Ví dụ điển hình là ephedrine, pseudoephedrine hoặc acetic anhydride - những chất không chỉ hỗ trợ mà còn là thành phần không thể thiếu trong quá trình tổng hợp hoặc tinh chế ma túy. Trong khi đó, theo chính mô tả thực tiễn hiện nay, caffeine không tham gia vào quá trình tạo thành methamphetamine, MDMA, ketamine hay các chất ma túy tổng hợp khác. Nó chủ yếu được sử dụng sau khi ma túy đã được tạo ra, với vai trò là chất độn, chất pha trộn hoặc phụ gia kỹ thuật nhằm tăng khối lượng, tạo cảm giác kích thích bổ sung hoặc hỗ trợ định hình sản phẩm.
TS Trần Thanh Thảo.
Nói cách khác, caffeine là chất bị lợi dụng trong phạm vi hậu sản xuất, chứ không phải tiền chất theo nghĩa pháp lý và hóa học. Nếu vẫn đưa caffeine vào danh mục tiền chất, điều này có thể dẫn tới mở rộng quá mức khái niệm “tiền chất ma túy”, làm suy giảm tính chuẩn xác của chính sách hình sự và kỹ thuật lập pháp.
Thứ hai, những gì cơ quan chức năng phản ánh là đáng lo ngại: caffeine đang bị sử dụng trong “nước vui”, “trà sữa”, viên nén tổng hợp để pha loãng hoạt chất ma túy, tăng lợi nhuận và thay đổi cảm nhận kích thích của người dùng. Điều này làm tăng nguy cơ ngộ độc, rối loạn tâm thần và gây khó khăn cho công tác giám định.
Tuy nhiên, một chất bị tội phạm lợi dụng chưa đồng nghĩa với việc chất đó phải trở thành tiền chất ma túy. Nếu lấy tiêu chí “bị lợi dụng để phạm tội” làm căn cứ chính, thì rất nhiều hóa chất phổ biến khác như lactose, glucose, dung môi công nghiệp hoặc phụ gia dược phẩm cũng có thể bị cân nhắc kiểm soát tương tự.
Do đó, vấn đề ở đây không phải là “caffeine có nguy hiểm hay không”, mà là “caffeine có phải là hóa chất tiền đề cấu thành ma túy hay không”. Xét trên tiêu chí này, câu trả lời hiện nay vẫn nghiêng về không.
Thứ ba, caffeine có phạm vi sử dụng hợp pháp cực kỳ rộng trong: thực phẩm và đồ uống (cà phê, trà, nước tăng lực); dược phẩm (thuốc giảm đau, thuốc chống buồn ngủ, thuốc cảm); công nghiệp thực phẩm và mỹ phẩm. Nếu được xếp vào nhóm tiền chất ma túy theo cơ chế quản lý của Nghị định quy định danh mục chất ma túy và tiền chất, hoạt động sản xuất, nhập khẩu, lưu kho, vận chuyển và phân phối caffeine có thể phải chịu: giấy phép đặc biệt; nghĩa vụ khai báo, truy xuất nguồn gốc; kiểm tra chuyên ngành tăng cường; chế tài hình sự nghiêm ngặt khi vi phạm quản lý.
Điều này sẽ dẫn đến chi phí tuân thủ rất lớn, trong khi lợi ích phòng chống ma túy chưa chắc tương xứng, bởi các đối tượng phạm tội có thể nhanh chóng chuyển sang các chất pha trộn hợp pháp khác.
Thứ tư, hệ thống kiểm soát ma túy toàn cầu của Liên Hợp Quốc chỉ đưa vào danh mục kiểm soát những hóa chất có mối liên hệ hóa học trực tiếp với việc sản xuất ma túy. Trong khi đó, caffeine không tham gia trực tiếp vào phản ứng tạo thành ma túy mà chỉ có thể bị lợi dụng như chất pha trộn hoặc phụ gia.
Dù một số quốc gia trong khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp từ khu vực Tam giác Vàng (như Lào hay Trung Quốc) đã đơn phương áp đặt các biện pháp kiểm soát đặc biệt đối với caffeine, Việt Nam cần hết sức thận trọng khi cân nhắc mô hình này.
TS Thảo cho rằng việc đưa caffeine vào danh mục tiền chất ma túy có thể tạo ra rào cản kỹ thuật không cần thiết, ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu, sản xuất và lưu thông hợp pháp các sản phẩm chứa caffeine, đồng thời đặt ra thách thức lớn trong hợp tác thương mại và quản lý chuỗi cung ứng xuyên biên giới đối với một quốc gia có thế mạnh xuất khẩu nông sản như Việt Nam.
"Vấn đề thực tiễn cần xử lý có lẽ không nằm ở bản thân caffeine mà ở hành vi lợi dụng caffeine để phạm tội về ma túy. Vì vậy, trong bối cảnh hiện nay thì giải pháp phù hợp là tăng cường quản lý có mục tiêu đối với caffeine tinh khiết hoặc giao dịch bất thường, thay vì đưa caffeine vào danh mục tiền chất ma túy. Điều này giúp cân bằng giữa yêu cầu phòng, chống tội phạm ma túy và nguyên tắc hạn chế mở rộng quá mức phạm vi can thiệp của pháp luật hình sự", TS Trần Thanh Thảo nêu quan điểm.
NGUYỄN TÂN
SONG MAI