Hơn 16.000 thai nhi phát hiện bất thường bẩm sinh
Tại Hội nghị Sản phụ khoa Việt - Pháp - Châu Á - Thái Bình Dương lần 26 diễn ra sáng 14/5, BS.CKII Trần Ngọc Hải – Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ cho biết, năm 2025, bệnh viện đã phát hiện hơn 16.000 trường hợp bất thường bẩm sinh thông qua công tác sàng lọc và chẩn đoán trước sinh.
Tuy nhiên, không phải mọi bất thường bẩm sinh đều phải đình chỉ thai kỳ. Có những trường hợp dị tật vẫn phù hợp với cuộc sống nếu được theo dõi và can thiệp kịp thời. Việc phát hiện sớm và điều trị đúng thời điểm nhằm tạo điều kiện tốt nhất để thai nhi chào đời khỏe mạnh.
"Hiện nay, với sự hỗ trợ của các công nghệ hiện đại cùng các hiệp hội chuyên ngành từ Úc và châu Âu, chúng tôi đã có thể chẩn đoán sớm các bất thường ngay từ tam cá nguyệt đầu tiên (từ tuần 11-13) của thai kỳ", BS.CKII Trần Ngọc Hải nói.
BS.CKII Trần Ngọc Hải – Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ chia sẻ tại hội nghị. Ảnh: P.T.
Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ cho biết thêm, sau quá trình chuẩn bị kéo dài suốt 10 năm, bệnh viện đã triển khai thành công những kỹ thuật khó nhất trong lĩnh vực can thiệp tim mạch bào thai, từng bước tạo được dấu ấn trên trường quốc tế.
Từ tháng 1/2024 đến nay, ê-kíp Bệnh viện Từ Dũ phối hợp với Bệnh viện Nhi đồng 1 đã thực hiện 14 ca can thiệp thông tim bào thai. Trong đó, 13/14 ca thành công về mặt kỹ thuật, cứu sống 13 thai nhi mắc dị tật tim bẩm sinh nặng.
Theo Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ, kết quả này đến từ sự phối hợp chặt chẽ giữa hai bệnh viện chuyên khoa sâu của TPHCM. Sự kết hợp liên chuyên khoa không chỉ giúp nâng cao cơ hội sống cho thai nhi mắc bệnh tim bẩm sinh nặng mà còn góp phần đưa kỹ thuật can thiệp tim bào thai của Việt Nam ghi dấu trên bản đồ y khoa thế giới.
14 ca thông tim bào thai và hành trình tìm 'đường đi an toàn'
Chia sẻ về những ca thông tim can thiệp bào thai đầu tiên tại Việt Nam, BS.CKII Trịnh Nhựt Thư Hương, Trưởng khoa Chăm sóc trước sinh Bệnh viện Từ Dũ - một trong nhưng chuyên gia chủ chốt trong các ca can thiệp cho biết, 14 ca can thiệp tim bào thai là 14 trường hợp hoàn toàn khác nhau, không ca nào giống ca nào nên ê-kíp phải liên tục điều chỉnh kỹ thuật, chiến lược, đường đi… để tìm ra hướng tiếp cận an toàn nhất cho từng trường hợp.
BS.CKII Trịnh Nhựt Thư Hương nói, thai nhi rất nhỏ, di động liên tục trong tử cung… khiến việc tiếp cận tim thai trở thành thách thức lớn đối với ê-kíp can thiệp. Với ca can thiệp đầu tiên, nhờ sự phối hợp của cả ê-kíp và có phần may mắn nên thành công gần như đạt "sách giáo khoa". Tuy nhiên, những ca sau khó khăn hơn rất nhiều.
Tới nay, ê-kíp chuyên gia Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Nhi đồng 1 đã thực hiện 14 ca can thiệp thông tim bào thai. Ảnh: BVCC.
"Các ca số 5, 6, 7, 8 chúng tôi bắt đầu rối. Đến ca số 11 trở đi, ê-kíp mới dần xây dựng được chiến lược tiếp cận ổn định hơn", bác sĩ Hương cho biết.
Đặc biệt, ca số 13 được xem là ca khó nhất từ trước tới nay khi ê-kíp phải thực hiện kỹ thuật hai kim để nong van động mạch phổi. "Có lúc chúng tôi nghĩ, thôi không làm nữa, nhưng nếu không làm thì em bé gần như chắc chắn sẽ đi theo tuần hoàn một thất. Vì vậy cả ê-kíp quyết định tiếp tục. Cuối cùng, ca can thiệp đã thành công", bác sĩ Hương kể.
Qua 14 ca can thiệp, bác sĩ Trịnh Nhựt Thư Hương cho rằng, thành công ban đầu có thể đến từ giải phẫu thuận lợi, nhưng thành công lâu dài phụ thuộc vào khả năng xây dựng được một đường tiếp cận có thể tái lập và kiểm soát tốt.
"Qua những ca này, chúng tôi học được rằng thành công bắt đầu từ việc lập kế hoạch đường đi. Thất bại cũng có thể bắt đầu từ một đường đi không ổn định", bác sĩ Hương nhấn mạnh.
Theo bác sĩ, một đường đi lý tưởng không nhất thiết phải đẹp như "sách giáo khoa" mà quan trọng là phải luôn quan sát rõ, ổn định về cơ học, có thể tái lập và được cả ê-kíp kiểm soát tốt trong suốt quá trình can thiệp. An toàn luôn là trên hết.
Nam Thương