Chính phủ ban hành Nghị định số 112/2026/NĐ-CP ngày 01/4/2026 về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon. Như vậy, đây là lần đầu Việt Nam có khung pháp lý về trao đổi tín chỉ carbon với quốc tế.
Theo Nghị định, hoạt động trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản. Trước hết là phù hợp với quy định của Thỏa thuận Paris, đồng thời góp phần thúc đẩy phát triển, chuyển giao công nghệ giảm phát thải, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hướng tới nền kinh tế carbon thấp tại Việt Nam.
Việc trao đổi được đặt trong ưu tiên thực hiện các mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính trong Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam, cũng như các cam kết quốc tế liên quan. Yếu tố lợi ích quốc gia được nhấn mạnh, cùng với yêu cầu hài hòa lợi ích giữa các bên tham gia và đóng góp cho phát triển bền vững tại địa phương nơi triển khai dự án.
Các dự án ứng dụng công nghệ mới, chi phí cao, chưa hoặc ít được triển khai tại Việt Nam như điện gió ngoài khơi, công nghệ thu giữ carbon hay sản xuất hydrogen xanh có thể được bán tới 90% tín chỉ carbon tạo ra.
Đáng chú ý, toàn bộ hoạt động trao đổi quốc tế phải được ghi nhận, công bố trên Hệ thống đăng ký quốc gia của Việt Nam. Quy định này nhằm bảo đảm tính minh bạch, tránh trùng lặp và phục vụ công tác theo dõi, kiểm kê phát thải.
Nghị định cũng quy định rõ thẩm quyền quản lý. Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan cấp văn bản chấp thuận chuyển giao quốc tế sau khi các kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ carbon đã được cấp. Những kết quả đã bị thu hồi hoặc hết hiệu lực sẽ không được phép chuyển giao.
Đối với lượng kết quả giảm phát thải khí nhà kính được chuyển giao quốc tế, việc điều chỉnh tương ứng giữa Việt Nam và các đối tác được thực hiện theo đúng quy định của Thỏa thuận Paris, bảo đảm không xảy ra tình trạng “tính hai lần” trong kiểm kê phát thải.
Việc bán kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon từ các chương trình, dự án đầu tư công phải lấy ý kiến của bộ quản lý lĩnh vực, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công an và các cơ quan, tổ chức có liên quan.
Cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản xin ý kiến.
Nguồn thu từ việc trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon hình thành từ dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (dự án PPP) được ghi nhận là doanh thu của dự án PPP và được quản lý theo quy định của pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư.
Đối với các dự án PPP đã được ký kết hợp đồng dự án và/hoặc có phương án tài chính mà có nhu cầu trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon thì cơ quan ký kết hợp đồng và nhà đầu tư tiến hành điều chỉnh hợp đồng dự án PPP và/hoặc phương án tài chính.
Khoản tiền thu được từ việc bán kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon từ các chương trình, dự án đầu tư công là khoản thu ngân sách nhà nước và được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
Việt Nam đặt mục tiêu đạt phát thải ròng bằng 0 vào 2050. Trước đây, Luật Bảo vệ môi trường 2020 đã đặt nền móng cho thị trường carbon, song vẫn thiếu các quy định cụ thể cho hoạt động trao đổi quốc tế.
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, công suất điện gió ngoài khơi tới 2030 đạt khoảng 6.000 MW và tăng lên 17.000 MW vào 2035. Loại nguồn điện này có thể đạt công suất 113.000-139.000 MW đến 2050, đóng vai trò chủ chốt trong mục tiêu trung hòa carbon.
Minh Thành