Đó là nhận định của PGS.TS. Nguyễn Bá Chiến, Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công khi chia sẻ với PV Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam.
Ổn định chính trị là lợi thế cạnh tranh quốc gia
PV: Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII đất nước giữ được sự ổn định chính trị và hội nhập quốc tế sâu rộng. PGS.TS có cho rằng, điều này tạo đà cho đất nước phát triển mạnh mẽ hơn trong kỷ nguyên mới?
PGS.TS. Nguyễn Bá Chiến: Thực tiễn cho thấy, ổn định chính trị không chỉ là điều kiện tiên quyết cho phát triển, mà đã trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia. Trong khi nhiều quốc gia phải đối mặt với xung đột, bất ổn và phân hóa xã hội sâu sắc, Việt Nam duy trì được môi trường chính trị ổn định, sự đồng thuận xã hội cao. Niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng cùng khát vọng phát triển đất nước đã tạo nên một hình ảnh Việt Nam tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc và tự chủ chiến lược.
PGS.TS. Nguyễn Bá Chiến cho rằng, sự kết hợp chặt chẽ giữa ổn định và đổi mới, giữa nội lực và ngoại lực, giữa kiên định nguyên tắc và linh hoạt trong sách lược đã tạo nên bản sắc và sức mạnh của mô hình phát triển Việt Nam.
Dưới góc độ quản trị hiện đại, sự ổn định đó là “vốn xã hội” đặc biệt quan trọng. Không chỉ là nền tảng vững chắc để thu hút những nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước, “vốn xã hội” này còn bảo đảm an ninh, an toàn, trật tự xã hội; củng cố thế trận quốc phòng, an ninh; đồng thời tạo dư địa chính trị - xã hội thuận lợi để triển khai các cải cách lớn; thúc đẩy đổi mới và chuyển đổi mô hình phát triển. Đây là cơ sở quan trọng để củng cố niềm tin chiến lược về một Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Song hành với đó, hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, được triển khai đồng bộ cả trên bình diện song phương và đa phương. Việc chúng ta nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với hầu hết các nền kinh tế lớn đã khẳng định vị thế quốc gia không ngừng được củng cố, nâng cao. Chính sự kết hợp chặt chẽ giữa ổn định và đổi mới, giữa nội lực và ngoại lực, giữa kiên định nguyên tắc và linh hoạt trong sách lược đã tạo nên bản sắc và sức mạnh của mô hình phát triển Việt Nam.
PV: Đại hội XIV của Đảng đề ra mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên. Tuy nhiên trong kỷ nguyên mới, đất nước vẫn đối mặt với nguy cơ tụt hậu và bẫy thu nhập trung bình. Chúng ta cần làm gì để hóa giải nguy cơ này, thưa PGS.TS?
PGS.TS. Nguyễn Bá Chiến: Năm 2025, quy mô GDP của Việt Nam ước đạt 514 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt 5.026USD, đưa nền kinh tế vươn lên đứng thứ 32 thế giới. Những con số này phản ánh bước tiến dài nhưng cũng nhắc nhở chúng ta đang ở “ngưỡng cửa” nhạy cảm nhất của “bẫy thu nhập trung bình”.
“Bẫy thu nhập trung bình” không chỉ đơn thuần là con số thu nhập, mà cốt lõi là năng lực quản trị và chất lượng phát triển. Bước vào nhiệm kỳ Đại hội XIV của Đảng, chúng ta đang ở “điểm chạm” quyết định để chuyển mình lên nhóm nước có thu nhập cao. Để hóa giải thách thức “bẫy thu nhập trung bình” cần tập trung vào 3 mũi nhọn:
Trước hết là chuyển đổi động lực tăng trưởng, không tiếp tục dựa vào gia công, lắp ráp hay khai thác tài nguyên mà lấy khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo làm nền tảng, ưu tiên phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, công nghiệp bán dẫn và AI. Bên cạnh đó có sự đột phá chất lượng nguồn nhân lực nhằm biến lợi thế dân số thành lợi thế cạnh tranh, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài, coi đào tạo lại và nâng cao kỹ năng số cho người lao động là quốc sách hàng đầu.
Cùng với đó là cải cách thể chế và nâng cao năng lực quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả. Thể chế là “hạ tầng của mọi hạ tầng”. Cải cách thể chế là “đột phá của đột phá” nhằm tạo khung khổ pháp lý minh bạch, kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo không ngừng. Cần loại bỏ tư duy trì trệ bằng cách thực thi hiệu quả cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
Đại hội XIV của Đảng khởi đầu kỷ nguyên phát triển mới với mô hình tăng trưởng nhanh và bền vững dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Đổi mới tư duy quản trị quốc gia
PV: Theo PGS.TS, trong nhiệm kỳ Đại hội XIV cần đổi mới điều gì trong quản lý và điều hành để đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên vươn mình, phát triển giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng?
PGS.TS. Nguyễn Bá Chiến: Bước vào kỷ nguyên mới, Việt Nam không chỉ cần duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh, quan trọng hơn là nâng cao chất lượng phát triển và năng lực cạnh tranh quốc gia. Vì vậy, cần chú trọng đổi mới quản lý và điều hành với trọng tâm là đổi mới tư duy quản trị quốc gia.
Trước hết, cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị phát triển. Quản lý và điều hành không chỉ dừng ở việc ban hành và kiểm soát mà phải hướng tới kiến tạo môi trường phát triển, dẫn dắt đổi mới sáng tạo và tạo giá trị gia tăng mạnh mẽ cho nền kinh tế. Hiệu quả điều hành phải được đo bằng chất lượng tăng trưởng, mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp.
Quản trị cần dựa trên nền tảng dữ liệu, coi đây là tài nguyên chiến lược. Chúng ta phải xây dựng được một chính phủ số thực chất, nơi các quyết định chính sách đều dựa trên phân tích dữ liệu. Việc liên thông dữ liệu quốc gia giúp giảm thiểu chi phí hành chính, góp phần nâng cao hiệu quả, tính minh bạch và sự chuyên nghiệp của bộ máy nhà nước.
Song song với đó, phân cấp phân quyền cần được đẩy mạnh và gắn chặt với trách nhiệm giải trình. Đương nhiên, quyền lực phải đi đôi với trách nhiệm. Mô hình “Chính quyền đô thị” và “Quản trị vùng” cần được quan tâm hoàn thiện cho phù hợp với bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp để tạo sức mạnh cộng hưởng, kết nối giữa các địa phương.
Xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, liêm chính giữ vai trò then chốt trong quá trình đổi mới quản trị quốc gia. Đội ngũ cán bộ phải là những “kiến trúc sư” về quản trị. Chúng ta cần thay đổi tư duy đánh giá cán bộ từ “tuân thủ quy trình” sang “thúc đẩy kết quả”, khuyến khích sự sáng tạo, đổi mới vì lợi ích chung của quốc gia, dân tộc.
PV: Thế và lực đất nước đang mở ra những cơ hội nào cho sự phát triển trong kỷ nguyên mới, thưa PGS.TS?
PGS.TS. Nguyễn Bá Chiến: Về “thế”, trước hết là vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được củng cố và nâng cao. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 nước, thiết lập khuôn khổ đối tác toàn diện trở lên với 42 nước, có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 14 nước, là thành viên tích cực của hơn 70 tổ chức quốc tế. Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là điểm đến an toàn, đối tác tin cậy, có trách nhiệm. Điều này tạo nền tảng ngoại giao, kinh tế vững chắc, giúp thu hút đầu tư, gia tăng liên kết chuỗi giá trị và nâng cao ảnh hưởng trên trường quốc tế.
Trong nước, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, niềm tin của nhân dân dưới lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam được củng cố vững chắc, cùng với khát vọng phát triển giàu mạnh, hùng cường ngày càng lan tỏa, tạo sự đồng thuận và nguồn sức mạnh nội sinh lớn mạnh, vững chắc.
PGS.TS. Nguyễn Bá Chiến cho rằng, vấn đề then chốt là kết tinh được “thế” và “lực” thành động lực phát triển thực chất, mạnh mẽ.
Về “lực”, nội lực của nền kinh tế - xã hội đã được nâng tầm rõ rệt. Năm 2025, quy mô kinh tế Việt Nam đứng thứ 32 thế giới. Dân số khoảng 102 triệu người, vẫn trong giai đoạn dân số vàng đến khoảng năm 2036. Việt Nam có hơn 1,1 triệu doanh nghiệp, hơn 5 triệu hộ kinh doanh và khoảng 6 triệu kiều bào, là nguồn lực quan trọng về tri thức, vốn và kết nối quốc tế. Hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là hạ tầng giao thông, hạ tầng số và hạ tầng năng lượng được đầu tư mạnh mẽ, tạo nền tảng cho phát triển dài hạn.
Trên nền tảng đó, nhiều cơ hội phát triển mới đang mở ra. Việt Nam duy trì vị trí thứ 44/139 quốc gia về chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu 2025, cho thấy năng lực khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo được cải thiện đáng kể. Dịch chuyển chuỗi cung ứng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, hội nhập kinh tế sâu rộng tạo dư địa lớn để nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Vấn đề then chốt là kết tinh được “thế” và “lực” thành động lực phát triển thực chất, mạnh mẽ. Cần đặc biệt chú trọng đổi mới quản trị quốc gia, phát huy nguồn lực con người và khơi thông mọi nguồn lực xã hội. Người dân Việt Nam có niềm tin rằng, với tinh thần tự tin, tự lực, tự cường, tự chủ chiến lược và sự đổi mới quyết liệt trong quản trị quốc gia, chúng ta sẽ thực hiện thành công khát vọng về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng vào năm 2045.
Nguyễn Vân/VOV.VN