Đồng chí Vũ Ngọc Hoàng (1953-2026)
Do không về kịp nên tôi không đến viếng và dự lễ truy điệu anh Vũ Ngọc Hoàng ở Tam Kỳ được, tôi cứ ân hận. Những điều lớn lao và sâu sắc về anh đã có nhiều người viết, hôm nay nhân “làm tuần” lần thứ nhất xin có đôi lời bái biệt một nhân cách Quảng Nam để lại trong anh em sự quý trọng và tiếc thương.
Tư duy đi trước thời mình
Trên đời có nhiều điều khó, trong đó có việc mình sống mà được người khác quý mến có lẽ là điều khó nhất. Anh Hoàng có được điều đó, anh như một lực quy tụ nhiều tinh hoa trong giới trí thức, giới văn nghệ sĩ và báo chí, nói vậy không phải người đời dễ dãi thông qua việc “ăn ở” của anh mà có sự gần gũi. Ở anh, như một sự sàng lọc, anh không tỏ ra là bề trên của cấp dưới mà là sự chân tình, anh không dễ dàng chấp nhận hiện thực theo kiểu thụ động “đã rồi”; ở anh thể hiện tố chất chính trị của một người giàu thực tiễn và thường có những khái quát đáng suy ngẫm.
Khi chia tách tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (1997), người ở lại thành phố sông Hàn, người vào Tam Kỳ, có thể tâm trạng khác nhau nhưng dễ nhận thấy hầu hết các anh chị bấy giờ đều hăm hở với rất nhiều dự định, kế hoạch. Làm gì để đưa một Quảng Nam năm 1996 có tổng thu ngân sách chưa tới 200 tỷ (Đà Nẵng hơn 1.000 tỷ) sớm tham gia câu lạc bộ địa phương 10.000 tỷ?
Và sau gần ba mươi năm, đến khi nhập lại (2025) thu ngân sách Quảng Nam và Đà Nẵng xấp xỉ bằng nhau (28.000 tỷ). Công lao ấy của rất nhiều người, của các đồng chí lãnh đạo tâm huyết và nhất là lớp cán bộ năng động từ cơ sở, của đội ngũ doanh nghiệp…, nhưng người ta dễ nhận có một phần đóng góp tích cực của anh Hoàng.
Sau ba năm làm Ủy viên thường vụ, đến tháng 7/2000 anh Hoàng được bầu làm Phó Bí thư và một năm sau anh được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy (8/2001). Đấy là giai đoạn Quảng Nam vượt qua khó khăn của một tỉnh thuần nông để sau đó cứng cáp với sự phát triển ngày càng rõ nét. Ai có dịp nói chuyện với anh Hoàng trong khoảng thời gian này đều dễ bị thuyết phục bởi tầm nhìn cho một Quảng Nam mới, những kế hoạch phát triển phía tây Quảng Nam, giữ và làm phong phú nét riêng tài nguyên du lịch và nhất là tập trung cho khu kinh tế mở Chu Lai.
Người ta thường ví thành công của THACO là biểu hiện cụ thể của tầm nhìn Chu Lai, nhưng để tạo ra một giây ngạc nhiên nhiều khi người ta phải lao động vì nó suốt đời. Việc hình thành khu kinh tế Chu Lai phải xử lý rất nhiều thủ tục và cơ chế, việc ấy là thứ thậm khó, nhưng khó hơn nhiều là biết tạo môi trường đủ sức thu hút doanh nghiệp lớn đầu tư là một câu chuyện khác, ở đây có thể sự gặp nhau giữa quyền lợi nhà nước với doanh nghiệp được xem là nhân tố quyết định. Người lãnh đạo giỏi là người biết tạo ra sự “gặp nhau” ấy.
Nông thôn mới được triển khai với nhiều tiêu chí, nhưng có một yêu cầu bức thiết với Quảng Nam là ngói hóa nhà ở và bê tông đường giao thông nông thôn. Hai tiêu chí nhãn tiền để biết dân đã bớt đói nghèo. Bộ mặt đô thị được tập trung xây dựng với một nhãn quan quy hoạch khá bài bản, các lợi thế du lịch được phát huy, Mỹ Sơn và Hội An được UNESCO công nhận di sản văn hóa thế giới. Cái lớn nhất của Quảng Nam là đã định dạng được hình hài của một tỉnh có công nghiệp mạnh, du lịch đủ sức tạo say đắm và một nông thôn dần dần trù phú.
“Quy hoạch cái không xây dựng”
Trong nhiều suy nghĩ của Vũ Ngọc Hoàng, có lẽ đáng nhớ nhất là quan niệm về phát triển. Anh từng cho rằng với các đô thị của Quảng Nam ,vấn đề không chỉ là quy hoạch xây dựng cái gì, mà quan trọng hơn là quy hoạch cái không xây dựng . Một cách nói ngắn gọn nhưng chứa đựng cả một tầm nhìn phát triển đầy tỉnh táo.
Bởi có những giá trị nếu mất đi thì không thể lấy lại bằng tiền bạc hay tốc độ tăng trưởng: phố cổ Hội An, Mỹ Sơn, bờ biển hay vùng sinh quyển Cù Lao Chàm không chỉ là tài nguyên du lịch, mà còn là hồn cốt văn hóa của một vùng đất. Đó cũng là lý do trong suy nghĩ của anh, phát triển không chỉ là làm ra nhiều công trình hơn, mà còn biết giữ lại những gì làm nên bản sắc của quê hương.
Một nhân cách Quảng Nam
Những năm anh Hoàng làm Bí thư Tỉnh ủy, anh em Đà Nẵng ít có dịp hàn huyên, chỉ đến khi anh ra Trung ương và nhất là thời gian mười năm về nghỉ hưu chúng tôi mới có dịp gặp nhau thường xuyên hơn, và sau mỗi lần nói chuyện ấy, bao giờ cũng để lại trong chúng tôi sự lắng đọng và suy nghĩ về hiện thực, về trăn trở trước những bất cập. Như người mang lửa anh luôn tạo cho người nghe sự thôi thúc, trăn trở.
Anh viết không nhiều (đã xuất bản Con đường phía trước (2 tập) và hơn 30 bài báo). Ấn tượng rõ nhất trong các bài viết ấy là gì? Trước hết đó là kết tinh những suy nghĩ của chính anh và do anh trực tiếp cầm bút viết ra, viết điều chính mình nghĩ nghe có vẻ đơn giản nhưng không phải ai cũng làm được. Anh nói điều anh thực sự suy nghĩ và anh viết điều anh thật sự nung nấu, và trong những bài viết ấy bao giờ ta cũng dễ nhận ra cái riêng của anh.
Có lẽ anh là một trong ít người nói sớm về văn hóa làng và làng văn hóa, làng từ bao đời không chỉ là không gian văn hóa, làng là cứ điểm của kháng chiến, làng là nơi làm nên hồn cốt quê hương. Anh cho rằng với các đô thị của Quảng Nam vấn đề không phải là quy hoạch xây dựng công trình, mà quan trọng hơn là quy hoạch việc không xây dựng. Giữ gìn không gian phố cổ hay bờ biển, trong đó có vùng sinh quyển Cù Lao Chàm là kết quả của một tầm tư duy mới.
Bạn bè một lần vào thăm anh Vũ Ngọc Hoàng (thứ hai, phải sang, 6/2025). Ảnh: Tư liệu
Cách đây mươi năm trên Thanh Niên anh có một bài được nhiều người quan tâm: “Kinh tế tư nhân sẽ dẫn đến Chủ nghĩa xã hội”, bây giờ thì vai trò kinh tế tư nhân được khẳng định là “động lực quan trọng nhất để phát triển”, chứ lúc đó (2016) mà khẳng định kinh tế tư nhân như một trong số nhân tố chính để xây dựng CNXH là quan điểm không dễ tạo đồng thuận.
Thực tiễn cho thấy ý kiến nói trên không chỉ là một cách tiếp cận lạ mà hơn thế là sự sắc sảo của một tầm tư duy, bởi suy cho cùng CNXH mà dân nghèo thì đó là sự mỉa mai của một mơ ước, CNXH trước hết nhân dân phải được ấm no, giàu có, và biện pháp để tạo ra sự phồn vinh trước hết và quan trọng hàng đầu là kinh tế tư nhân. Trong khi đi tìm sự giàu có cho bản thân, nhà tư bản đồng thời cũng tạo ra sự giàu có cho xã hội.
Nhưng có lẽ dấu ấn lớn nhất trong lĩnh vực báo chí của anh Vũ Ngọc Hoàng là khi Tạp chí Cộng sản (2015) đăng bài “Lợi ích nhóm” và “Chủ nghĩa tư bản thân hữu” (bài này được trao Giải A Giải Báo chí Quốc gia 2015). “Lợi ích nhóm” và “Chủ nghĩa tư bản thân hữu” là vấn đề không mới nhưng cách đặt vấn đề của anh Hoàng khiến người đọc hết sức quan tâm, nhất là khi anh khẳng định “Tình hình “lợi ích nhóm” đã khá nghiêm trọng, tương đối phổ biến, ở cấp nào cũng có, cấp cao hơn thì mức độ càng nặng hơn, lĩnh vực nào cũng có, kể cả ở những nơi mà xưa nay trong tiềm thức xã hội thường cho rằng đó là nơi luôn trang nghiêm, trong sạch. “Lợi ích nhóm” cũng chính là một kiểu tham nhũng nghiêm trọng nhất, tham nhũng có tổ chức”.
“Đỉnh cao” của lợi ích nhóm là sự cấu kết giữa người có tiền với người có quyền, như thành quy luật khi đã có tiền thì muốn có quyền và người có quyền thì khao khát có nhiều tiền. Mối quan hệ “cộng sinh” này là một nguy cơ. Vấn đề không phải mô tả, phân tích hiện tượng tha hóa quyền lực theo lợi ích nhóm mà quan trọng hơn là thiết lập cơ chế ngăn ngừa hiện tượng lũng đoạn giữa kẻ có tiền với người có quyền đối với tài nguyên cũng như nguồn lực kinh tế quốc gia. Anh Hoàng mạnh dạn nói điều này như một cảnh báo sống còn: “Nước nào rơi vào chủ nghĩa tư bản thân hữu thì không ngóc đầu lên được”.
Cùng với một số trí thức anh nhiệt thành ủng hộ xây dựng một trường đại học với phương châm phi lợi nhuận, tiếc rằng lĩnh vực tưởng thuần túy học hành và chữ nghĩa này lại là nơi diễn ra sự cạnh tranh khốc liệt. Những năm sau này anh dành nhiều thời giờ cho Hiệp hội các trường đại học và cao đẳng Việt Nam, nó không chỉ phản ánh “tiếng nói” của hệ thống các trường mà còn triển khai một phương châm đào tạo mới cho bậc đào tạo đại học, lĩnh vực đang tồn tại nhiều bất cập.
Đâu là chìa khóa? Triết lý giáo dục, nội dung, chương trình… ở đâu cũng thấy mênh mang những điều cần cải cách. Anh Hoàng đã viết, phát biểu nhiều nhưng tâm huyết nhất vẫn là tự chủ đại học và hợp tác quốc tế. Kỷ nguyên mới chỉ thật sự thành hiện thực đầy đủ khi Việt Nam có đội ngũ nhân lực chất lượng cao.
Anh Hoàng nói nhỏ nhẹ nhưng khiến người đối diện lắng nghe, anh không hùng biện thuyết giảng nhưng lúc nào cũng lập luận chặt chẽ, có những chi tiết tưởng anh nói chơi nhưng không đơn giản là chuyện vặt. Có lần anh nhìn một quyển kỷ yếu nói “Nội dung và tác giả tham luận ni phải là “Kỷ mạnh” chứ?".
Năm 1994 thành lập Trung tâm Kinh tế châu Á Đà Nẵng (VAPEC), bấy giờ anh Hoàng làm giám đốc, anh Trần Minh Cả và tôi làm phó. Cơ duyên tôi may mắn được gần anh từ dạo ấy và được chia sẻ nhiều điều hay. Xin được nhớ đến anh như một bài học về tính cách con người, một người rất Quảng Nam.
MAI ĐỨC LỘC