Vụ patê 'dính' thịt lợn bệnh: Đổ vỡ niềm tin, mịt mờ thương hiệu Việt

Vụ patê 'dính' thịt lợn bệnh: Đổ vỡ niềm tin, mịt mờ thương hiệu Việt
3 giờ trướcBài gốc
Khi thương hiệu không còn hào nhoáng
Thông tin về nguyên liệu đầu vào của doanh nghiệp không bảo đảm bị phanh phui, phản ứng dây chuyền lập tức xảy ra: Người tiêu dùng quay lưng, hệ thống phân phối chủ động rút sản phẩm, đối tác thương mại cắt đứt hợp tác. Chỉ trong thời gian ngắn, một thương hiệu đồ hộp mà doanh nghiệp đã gây dựng gần 70 năm gần như… đổ vỡ.
Trao đổi với PV Tiền Phong, PGS, TS. Dương Thị Liễu - Viện trưởng Viện Văn hóa kinh doanh - cho rằng, Đồ hộp Hạ Long từng gắn với ký ức tiêu dùng của nhiều thế hệ, từng được xem là biểu tượng của ngành chế biến thực phẩm nội địa. Chính vì vậy, khủng hoảng này càng cho thấy một thực tế khắc nghiệt: Lịch sử, danh tiếng quá khứ hay bề dày thương hiệu không còn là “lá chắn” khi niềm tin của người tiêu dùng bị phớt lờ.
Trong nhiều năm, không ít doanh nghiệp Việt vẫn hiểu thương hiệu theo nghĩa hẹp là nhãn mác, khẩu hiệu, hình ảnh quảng bá. Nhưng vụ patê Cột Đèn cho thấy, thương hiệu trong thời đại mới được quyết định bởi toàn bộ chuỗi giá trị phía sau sản phẩm từ nguồn nguyên liệu, quy trình kiểm soát an toàn thực phẩm, chuẩn mực đạo đức kinh doanh, cho đến cách doanh nghiệp ứng xử khi khủng hoảng xảy ra.
“Chỉ cần một mắt xích bị buông lỏng, toàn bộ cấu trúc thương hiệu có thể đổ xuống sông, xuống biển. Người tiêu dùng hôm nay không còn quan tâm doanh nghiệp từng đạt bao nhiêu giải thưởng hay có lịch sử bao lâu. Câu hỏi họ đặt ra rất thẳng thắn: Sản phẩm này có an toàn cho gia đình tôi hay không? Khi câu trả lời trở nên mơ hồ, niềm tin sẽ trở nên lung lay”, bà Liễu nói.
Hàng loạt siêu thị đã thu hồi sản phẩm patê Cột Đèn Hải Phòng ngay sau khi vụ việc xảy ra.
Điều đáng nói, hệ lụy lớn nhất của vụ việc không nằm ở thiệt hại doanh thu hay hoạt động kinh doanh trước mắt, mà ở tác động dài hạn đối với hình ảnh hàng Việt. Mỗi vụ bê bối an toàn thực phẩm không chỉ làm tổn thương một doanh nghiệp, mà còn kéo lùi nỗ lực xây dựng thương hiệu quốc gia, ảnh hưởng niềm tin xã hội vào hàng hóa sản xuất trong nước.
Đáng chú ý, vụ việc không chỉ nằm trong phạm vi Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long, mà còn tác động trực tiếp tới hình ảnh Patê Cột Đèn - Hải Phòng, một biểu tượng ẩm thực truyền thống của thành phố cảng.
Thực tế thị trường đã chứng kiến không ít bài học tương tự. Khaisilk từng là biểu tượng hàng hiệu Việt nhưng gần như biến mất sau khi bị phát hiện gian dối xuất xứ. Asanzo từng được ca ngợi là doanh nghiệp Việt tiêu biểu, nhưng khi vấn đề nguồn gốc sản phẩm bị đặt dấu hỏi, niềm tin thị trường lao dốc, kéo theo sự suy sụp gần như toàn diện.
“Trong thời đại số, thương hiệu Việt muốn đi xa không thể dựa vào truyền thông hào nhoáng, mà phải được xây dựng bằng kỷ luật: Kỷ luật trong kiểm soát chất lượng, kỷ luật trong tuân thủ pháp luật, và kỷ luật trong việc lựa chọn lợi ích dài hạn thay vì lợi nhuận ngắn hạn”, Viện trưởng Viện Văn hóa kinh doanh bày tỏ.
Rủi ro từ lỗ hổng kiểm soát an toàn thực phẩm
Chuyên gia an toàn thực phẩm Tô Liên Thu cho rằng, vụ việc của Công ty CP Đồ hộp Hạ Long còn phản ánh những lỗ hổng trong giám sát, hậu kiểm và minh bạch thông tin. Khi một sản phẩm có thể lưu thông trên thị trường trong thời gian dài trước khi sai phạm bị phát hiện, thì hệ thống quản lý rõ ràng cần được nhìn nhận lại một cách nghiêm túc.
Theo bà Thu, nếu hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm được thiết kế và vận hành đủ chặt chẽ, doanh nghiệp “không thể và cũng không dám làm sai”. Điều đáng nói là sai phạm không chỉ xảy ra, mà còn diễn ra với quy mô lớn nhưng không bị phát hiện qua các khâu giám sát thường xuyên.
“Với khối lượng lớn thịt lợn nhiễm dịch, rất khó có thể coi đây là rủi ro vô tình hay sự cố ngoài ý muốn. Không có chuyện hàng trăm tấn thịt lợn nhiễm dịch tình cờ lọt vào chuỗi chế biến. Bởi khi lợn được đưa ra thị trường, bắt buộc phải có dấu kiểm dịch và có hồ sơ giết mổ hợp pháp”, bà Thu nói.
Hơn 100 tấn thịt lợn nhiễm dịch tả châu Phi được đưa vào nguyên liệu chế biến cho thấy lỗ hổng trong kiểm soát an toàn thực phẩm ở cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý.
Vị chuyên gia cho rằng, nguyên tắc tối thiểu của ngành thực phẩm là nguyên liệu đầu vào phải được kiểm soát dịch bệnh và đáp ứng đầy đủ điều kiện vệ sinh thú y trước khi đưa vào chế biến. Việc những “chốt chặn” cơ bản này bị bỏ trống cho thấy trách nhiệm không chỉ nằm ở doanh nghiệp, mà còn phản ánh sự buông lỏng trong quản lý nhà nước ở cấp cơ sở.
Đặc biệt, bà Thu cho biết một lỗ hổng cốt lõi khác là mô hình quản lý an toàn thực phẩm ở Việt Nam hiện nay còn bị chia cắt và chồng chéo. Nhiều bộ, ngành cùng tham gia quản lý khiến khi xảy ra sự cố, trách nhiệm dễ bị phân tán và không có một chủ thể chịu trách nhiệm cuối cùng.
Từ kinh nghiệm quốc tế, bà Thu cho rằng Việt Nam cần nghiêm túc xem xét mô hình một cơ quan quản lý an toàn thực phẩm thống nhất, độc lập, hoạt động xuyên suốt từ Trung ương tới địa phương, đủ thẩm quyền.
“Nhiều quốc gia áp dụng cách tiếp cận một đầu mối, kiểm soát đồng thời dịch bệnh động vật, thực vật và sức khỏe con người trong cùng một hệ thống. Nếu các khoảng trống về thể chế và tổ chức thực thi không sớm được bịt kín, thì rủi ro sẽ tiếp tục lặp lại. Khi đó, cái giá phải trả không chỉ là số phận của một doanh nghiệp, một thương hiệu mà là uy tín của cả thị trường thực phẩm Việt Nam”, bà Thu cho hay.
Dương Hưng
Nguồn Tiền Phong : https://tienphong.vn/vu-pate-dinh-thit-lon-benh-do-vo-niem-tin-mit-mo-thuong-hieu-viet-post1812878.tpo