Xác định thời điểm sử dụng đất bằng cách nào?

Xác định thời điểm sử dụng đất bằng cách nào?
một giờ trướcBài gốc
Từ góc nhìn pháp lý, Luật sư Quách Thành Lực, Giám đốc Công ty Luật Pháp Trị cho biết, theo quy định tại Điều 138 Luật Đất đai năm 2024, đối với đất có giấy tờ, nếu được xác định thời điểm sử dụng đất trước ngày 18/12/1980 thì người sử dụng đất được xác định diện tích đất ở khi cấp sổ bằng hạn mức công nhận đất ở và không phải đóng tiền sử dụng đất.
Còn nếu bị xác định thời điểm sử dụng đất từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 1/7/2014 thì chỉ được xác định diện tích đất ở khi cấp sổ bằng hạn mức giao đất ở và phải đóng tiền sử dụng đất.
Sự chênh lệch về quyền lợi này có thể thấy rõ qua một ví dụ cụ thể. Với thửa đất có diện tích 100m2 tại phố Hàng Khay, vị trí 1 mặt đường Bà Triệu (Hà Nội), nếu thời điểm sử dụng đất được xác định từ ngày 15/10/1993 thì khi cấp sổ sẽ chỉ được công nhận 90m2 đất ở và phải đóng 20% giá đất ở; phần 10m2 còn lại phải đóng 50% giá đất ở. Căn cứ theo Bảng giá đất năm 2026, giá đất tại phố Hàng Khay, vị trí 1 mặt đường Bà Triệu có giá 700 triệu/m2 thì phần 90m2 phải đóng 12 tỷ 600 triệu; phần 10m2 phải đóng 3 tỷ 500 triệu. Tổng cộng là 16 tỷ 100 triệu.
Trong khi đó, nếu thửa đất được xác định thời điểm sử dụng trước ngày 18/12/1980 thì toàn bộ 100m2 đều được công nhận đất ở và số tiền phải đóng là 0 đồng.
Theo luật sư Lực, để tránh rủi ro pháp lý, người dân có thể tự xác định thời điểm sử dụng đất bằng các cách sau:
Cách thứ nhất, căn cứ theo giấy tờ được liệt kê tại Điều 137 Luật Đất đai năm 2024. Cụ thể, phần Phụ lục của Nghị định 151/2025/NĐ-CP quy định: “Trường hợp có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 7 Điều 137 Luật Đất đai thì thực hiện xác định đất sử dụng ổn định theo quy định tại khoản 38 Điều 3 Luật Đất đai”. Có nghĩa là giấy tờ này ghi nhận thời gian sử dụng đất vào thời gian nào thì xác định thời điểm sử dụng đất như thế.
Cách thứ hai đối với trường hợp không có giấy tờ theo Điều 137 Luật Đất đai năm 2024. Khi đó, thời điểm sử dụng đất được xác định theo danh sách một trong các giấy tờ được liệt kê tại Phụ lục của Nghị định 151/2025/NĐ-CP có thể kể đến như: Biên lai nộp thuế, giấy tờ điện nước, tạm trú, thường trú, Bản đồ địa chính, sổ mục kê, sổ kiến điền được lập từ năm 1980 trở về sau...
Nghĩa là giấy tờ này ghi thời gian thế nào thì xác định thời điểm sử dụng đất như thế. Nếu có nhiều giấy tờ mà ghi các thời điểm khác nhau thì được tính thời điểm theo giấy tờ sớm nhất.
Cách thứ ba với trường hợp không có giấy tờ được liệt kê tại hai cách trên. Phần Phụ lục của Nghị định 151/2025/NĐ-CP quy định: “Trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 137 Luật Đất đai mà không có một trong các thông tin, giấy tờ tại nội dung (ii) hoặc trên giấy tờ, thông tin đó không ghi rõ thời điểm xác lập giấy tờ, thời điểm xác lập thông tin và mục đích sử dụng đất được thực hiện trên cơ sở nội dung kê khai của người sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất”.
Quy định trên được hiểu là nếu không có giấy tờ gì chứng minh thì cơ quan chức năng dựa trên thông tin người sử dụng đất kê khai, theo hiện trạng đất để xác định thời điểm sử dụng đất.
Theo Luật sư Quách Thành Lực, phần Phụ lục của Nghị định 151/2025/NĐ-CP đã quy định tương đối đầy đủ và rõ ràng cách thức xác định thời điểm sử dụng đất cho người dân khi thực hiện các thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Gia Hải - Hồng Thương
Nguồn Pháp Luật VN : https://baophapluat.vn/xac-dinh-thoi-diem-su-dung-dat-bang-cach-nao.html