Xác lập giá trị và con đường thoát khỏi các thế lưỡng nan phát triển ở Việt Nam

Xác lập giá trị và con đường thoát khỏi các thế lưỡng nan phát triển ở Việt Nam
3 giờ trướcBài gốc
Nhưng đi sau các con số đẹp là một chuỗi câu hỏi: Vì sao môi trường ngày càng xuống cấp? Vì sao tham nhũng, dù bị chỉ mặt và được tuyên bố là “giặc nội xâm”, vẫn bám rễ trong nhiều tầng nấc? Và vì sao người dân ngày càng yêu cầu nhiều hơn về minh bạch, trách nhiệm và chất lượng quản trị?
Chống tham nhũng cũng chứa những lưỡng nan, muốn chống tham nhũng có kết quả thì nhất quyết phải mở rộng minh bạch, tăng giải trình, để báo chí và người dân cùng tham gia giám sát.Ảnh: H.P
Đó không chỉ là những câu hỏi/hiện tượng rời rạc. Chúng xuất hiện vì một lý do sâu hơn: Việt Nam, cũng như nhiều nước đang phát triển khác, đang đối mặt với những thế lưỡng nan phát triển trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế. Những lưỡng nan này không phải hiện tượng cá biệt, mà gắn liền với mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào tốc độ, khai thác tài nguyên hữu hình và đầu tư công chưa hiệu quả như kỳ vọng; là hệ quả của cách vận hành quản trị ưu tiên sự ổn định hơn sự bền vững dài hạn; hệ quả của việc thiếu một hệ giá trị đủ rõ để chi phối mọi quyết định.
Một quốc gia có thể đi nhanh, nhưng để đi vững và đi xa, cần một trục định hướng nhất quán. Việt Nam, đã đến lúc phải đặt câu hỏi: Đâu là giá trị mà mình không được phép đánh đổi?
Lưỡng nan phát triển: tăng trưởng nhanh và chi phí ngầm
Để tạo công ăn việc làm, nâng cấp hạ tầng và duy trì sự ổn định, Việt Nam cần chuyển đổi nền kinh tế để tăng trưởng. Nhưng tăng trưởng theo hướng mở rộng lại kéo theo những hệ lụy khó tránh: ô nhiễm gia tăng, rừng bị thu hẹp, thiếu đánh giá rủi ro. Điển hình là những dự án thủy điện nhỏ và tổn thất nặng nề ở miền Trung sau các đợt mưa lũ. Khi tăng trưởng trở thành ưu tiên cao nhất, các chuẩn mực an toàn, giám sát và đánh giá tác động môi trường dễ bị xem nhẹ. Hệ quả là quốc gia có thêm thành tích ngắn hạn nhưng lại tích lũy rủi ro dài hạn.
Vấn đề ở đây không chỉ là yếu kém về kỹ thuật hay năng lực quản lý. Nó bắt nguồn từ một lưỡng nan lớn hơn: chọn lợi ích ngắn hạn hay lợi ích lâu dài. Kết quả trước mắt thường rõ ràng - tốc độ tăng trưởng cao, giải ngân nhanh, thành tích dễ thấy. Lợi ích dài hạn bền vững cần nhiều thời gian hơn để ghi nhận. Trong sự giằng co đó, quyết định rất dễ lệch về phía nhanh, nhiều và dễ triển khai; thay vì an toàn, bền vững và thận trọng.
Lưỡng nan thứ hai cũng xuất hiện từ chính hệ thống động lực phát triển. Khi các dự án lớn được phân bổ, lợi ích kinh tế hình thành, và nếu thiếu các cơ chế minh bạch và giải trình mạnh, lợi ích cục bộ thành yếu tố quyết định, lợi ích cộng đồng dễ bị bỏ qua. Một dự án đem lại nhiều lợi nhuận cho một nhóm nhỏ có thể được ưu tiên, dù ít mang lại giá trị cho cộng đồng xung quanh. Một chủ trương hợp lý ở trung ương có thể biến tướng khi đi xuống địa phương. Lợi ích chung có thể bị phân mảnh, còn rủi ro lại dồn về phía người dân.
Những lưỡng nan này không phải đặc thù của Việt Nam. Nhiều nước đang phát triển cũng đã đối mặt. Điểm khác biệt nằm ở năng lực của quốc gia trong việc tự đặt bộ quy tắc giá trị để biết lúc nào phải dừng, lúc nào phải chọn con đường khó nhưng đúng.
Lưỡng nan quản trị công: nhu cầu ổn định và nhu cầu cải cách
Nhà nước nào cũng cần ổn định để phát triển. Nhưng ổn định không chỉ là trật tự hình thức. Trong dài hạn, ổn định phải đến từ sự tin tưởng của người dân rằng các quyết định công được ban hành vì lợi ích chung.
Lưỡng nan là điều không thể tránh trong quá trình phát triển. Nhưng lưỡng nan chỉ trở thành bẫy khi quốc gia không có hệ giá trị làm chuẩn đạo. Khi giá trị đã rõ và được theo đuổi nhất quán, Việt Nam có thể bước qua những lưỡng nan từng kìm hãm mình: từ tăng trưởng nóng sang phát triển bền vững, từ lợi ích cục bộ sang lợi ích chung, từ chống tham nhũng phòng vệ sang chống tham nhũng dựa vào niềm tin xã hội.
Từ đó xuất hiện một lưỡng nan khác: đổi mới cần mức độ minh bạch cao hơn, nhưng điều này lại làm tăng khả năng bộc lộ những tồn tại và tạo thêm áp lực xã hội; muốn giữ ổn định thì định hướng thông tin nhưng việc này lại làm giảm chất lượng của chính sách và làm suy yếu khả năng tự hoàn thiện của bộ máy.
Lưỡng nan này thể hiện rõ nhất trong lĩnh vực chống tham nhũng, nơi chính quyền cố gắng chấn chỉnh bộ máy bằng cách mạnh tay xử lý sai phạm, nhưng chính quá trình này lại tạo ra những mâu thuẫn nội tại.
Lưỡng nan chống tham nhũng: minh bạch và rủi ro ổn định
Khi tham nhũng ảnh hưởng đến uy tín chính quyền và hiệu quả của phát triển, chống tham nhũng là đòi hỏi tự nhiên của xã hội và là yêu cầu sống còn đối với bộ máy. Nhưng tự bản thân chống tham nhũng cũng chứa những lưỡng nan mà nếu không nhận diện rõ và không có giá trị nhất quán dẫn dắt, nỗ lực này có thể rơi vào vòng tròn luẩn quẩn.
Lưỡng nan đầu tiên là lưỡng nan về thông tin như đã đề cập. Chống tham nhũng muốn có kết quả thì nhất quyết phải mở rộng minh bạch, tăng giải trình, để báo chí và người dân cùng tham gia giám sát. Nhưng khi minh bạch, những sai phạm nghiêm trọng lộ ra, phản ứng của xã hội tăng và tạo áp lực lên chính quyền.
Lưỡng nan thứ hai thuộc về cơ chế thực thi. Khi xã hội đòi hỏi quyết liệt hơn trong phòng, chống tham nhũng, thẩm quyền của các cơ quan chấp pháp có thể được mở rộng. Nhưng việc mở rộng thẩm quyền ấy lại dễ dẫn đến tăng tham nhũng trong chính bộ máy, đặc biệt là tham nhũng quyền lực .
Cả hai lưỡng nan này dẫn tới một vòng tuần hoàn nghịch lý: minh bạch để chống tham nhũng thì lo ngại về sự ổn định; không minh bạch thì chống tham nhũng yếu đi, có thể làm người dân mất lòng tin…
Đây không chỉ là vấn đề của riêng lĩnh vực chống tham nhũng. Nó liên quan trực tiếp đến mô hình tăng trưởng, đến mục tiêu phát triển dài hạn và đến cách một quốc gia định vị giá trị của mình.
Nếu muốn hóa giải vòng lặp ấy, Việt Nam phải bắt đầu từ nền tảng sâu hơn: hệ giá trị làm chuẩn mực cho mọi lựa chọn chính sách.
Hệ giá trị: chìa khóa để thoát khỏi các lưỡng nan
Một quốc gia chỉ thoát khỏi các lưỡng nan khi biết rõ mình ưu tiên điều gì. Không có hệ giá trị rõ ràng, mọi lựa chọn dễ bị chi phối bởi các áp lực ngắn hạn. Có hệ giá trị, quốc gia biết điểm dừng, biết nguyên tắc không được vượt qua, và biết điều gì là mục tiêu không thể bị đánh đổi.
Giá trị thứ nhất phải là sinh mạng và phẩm giá con người. Khi giá trị này được đặt lên cao nhất, mọi chính sách - từ quy hoạch thủy điện đến chống tham nhũng - đều phải xuất phát từ sự an toàn của người dân. Một dự án ảnh hưởng đến rừng không nên được ưu tiên nếu gây phương hại đến sinh kế và an toàn của cộng đồng ở hạ lưu.
Giá trị thứ hai là hạnh phúc và chất lượng sống của người dân. Khi hạnh phúc là mục tiêu cuối cùng, GDP không còn là thước đo duy nhất. Một đô thị đông đúc nhưng ô nhiễm, một khu công nghiệp giàu có nhưng gây bệnh tật, hay một cây cầu lớn nhưng đội vốn khổng lồ không thể được xem là thành tựu trọn vẹn.
Giá trị thứ ba là minh bạch, quyền được biết và quyền tham gia của người dân. Đây không chỉ là giá trị dân chủ mà còn là cơ chế bảo vệ chính sách trước các rủi ro sai lầm. Người dân tham gia càng nhiều, khả năng phát hiện sai phạm càng cao. Khi người dân được tham gia hợp tác, việc phòng, chống tham nhũng có điều kiện được triển khai sâu rộng và toàn diện hơn.
Ba giá trị này nếu được theo đuổi nhất quán sẽ đóng vai trò là “bộ lọc” cho toàn bộ quyết định phát triển. Chúng giúp chuyển hướng từ các động cơ ngắn hạn sang mục tiêu dài hạn; từ lợi ích cục bộ sang lợi ích cộng đồng; và từ phát triển nóng sang phát triển bền vững.
Vai trò của lãnh đạo: biến hệ giá trị thành thực tế
Không một hệ giá trị nào tự đi vào đời sống nếu thiếu lãnh đạo có bản lĩnh. Lãnh đạo là người đặt chuẩn mực và duy trì chuẩn mực đó qua hành động, qua cách ra quyết định và qua sự nêu gương về trách nhiệm.
Khi chính quyền đặt giá trị con người lên cao nhất sẽ không chấp nhận những dự án gây rủi ro cho dân. Một hệ thống đề cao minh bạch sẽ không hạn chế dòng thông tin khi gặp áp lực. Một hệ thống tôn trọng phản biện sẽ coi phản biện là nguồn lực.
Nhưng hơn hết, lãnh đạo cần đủ tầm nhìn để từ chối cái lợi trước mắt. Những quyết định sáng suốt nhất đôi khi là những quyết định nói “không”. Nói không với dự án có khả năng gây hại cho rừng. Nói không với cách tăng trưởng nặng về khai thác. Nói không với việc trao thêm thẩm quyền cho các công cụ hành chính khi chính những công cụ ấy có nguy cơ tạo ra mắt xích tham nhũng mới.
Chính quyền cần chọn con đường khó hơn nhưng an toàn hơn: con đường dựa trên lòng dân, dựa trên giá trị lâu dài và dựa trên sự tôn trọng pháp quyền.
Con đường đi tới: từ tăng trưởng sang thịnh vượng bền vững
Khi hệ giá trị được xác lập, các lưỡng nan không còn là những cái bẫy hay thế kẹt. Chúng trở thành tấm gương phản ánh những tiêu chí để lựa chọn. Quốc gia biết lúc nào phải chậm lại, lúc nào phải dừng, lúc nào phải tránh các hệ lụy để có thể đi vững vàng.
Thoát khỏi lưỡng nan phát triển đồng nghĩa với việc cải thiện chất lượng tăng trưởng. Thoát khỏi lưỡng nan đồng nghĩa với việc củng cố niềm tin xã hội - nguồn tài sản vô hình quyết định sự bền vững của quốc gia. Và thoát khỏi các lưỡng nan đã nêu đồng nghĩa với việc nâng cấp mô hình quản trị: từ quản trị dựa vào kiểm soát sang quản trị dựa vào giá trị.
Đó là nền tảng cho một Việt Nam thịnh vượng bền vững - nơi tăng trưởng không phải trả giá bằng môi trường, nơi phát triển không cần dựa vào đánh đổi, và nơi niềm tin của người dân trở thành nguồn động lực mạnh nhất cho đổi mới.
Kết luận
Lưỡng nan là điều không thể tránh trong quá trình phát triển. Nhưng lưỡng nan chỉ trở thành bẫy khi quốc gia không có hệ giá trị làm chuẩn đạo. Khi giá trị đã rõ và được theo đuổi nhất quán, Việt Nam có thể bước qua những lưỡng nan từng kìm hãm mình: từ tăng trưởng nóng sang phát triển bền vững, từ lợi ích cục bộ sang lợi ích chung, từ chống tham nhũng phòng vệ sang chống tham nhũng dựa vào niềm tin xã hội.
Điều Việt Nam cần lúc này không phải là đi nhanh bằng mọi giá, mà là đi đúng để có thể đi xa.
TS. Lê Vĩnh Triển
Nguồn Saigon Times : https://thesaigontimes.vn/xac-lap-gia-tri-va-con-duong-thoat-khoi-cac-the-luong-nan-phat-trien-o-viet-nam/