Triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đặt ra yêu cầu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành động lực trung tâm của mô hình phát triển mới. Vấn đề không chỉ là tăng đầu tư, mà là tổ chức lại lực lượng nòng cốt, trao cơ chế đủ mạnh và chuyển từ quản lý thủ tục sang quản lý theo tác động cuối cùng.
Phòng sạch, Trung tâm Nano và Năng lượng, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, nơi đào tạo và nghiên cứu về bán dẫn. Ảnh: Giang Huy
Xác lập vị thế chủ lực, chuyển từ “trao đổi” sang “ra sản phẩm”
Mô hình 4V1M là sự liên kết giữa Bộ Khoa học và Công nghệ với 4 trung tâm nghiên cứu - đào tạo hàng đầu cả nước: Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại hội nghị năm 2026, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng khẳng định mô hình “4V1M” phải được xác lập rõ là hạt nhân, là lực lượng nòng cốt (National Team) để giải quyết các bài toán lớn của quốc gia. Sự phát triển và lớn mạnh của 4V chính là thước đo cho sự phát triển của nền khoa học và công nghệ nước nhà.
Điều đó có nghĩa, 4V1M không chỉ là một diễn đàn trao đổi học thuật hay tổng kết hoạt động. Hợp tác trong khuôn khổ này phải chuyển mạnh sang hành động thực chất, hình thành các chương trình, nhiệm vụ cụ thể, có mục tiêu rõ ràng và sản phẩm đầu ra đo đếm được.
Một chuyển đổi quan trọng được nhấn mạnh là thay đổi tư duy quản lý: Không kiểm soát chi tiết đầu vào mà tập trung đánh giá đầu ra (output), hiệu quả (outcome) và tác động kinh tế - xã hội (impact). Khoa học và công nghệ là lĩnh vực mạo hiểm, vì vậy cần có cơ chế chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu nếu thực hiện đúng quy trình và vì động cơ trong sáng.
Song song với đó là tái cấu trúc các chương trình khoa học và công nghệ theo danh mục công nghệ chiến lược, lựa chọn một số lĩnh vực ưu tiên trong giai đoạn đầu. Mỗi chương trình phải được thiết kế đầy đủ ba cấu phần: Nghiên cứu khoa học; phát triển công nghệ và sản phẩm; sản xuất và thị trường. Cách tiếp cận này nhằm khắc phục tình trạng dừng lại ở kết quả trung gian, đưa khoa học đi trọn chuỗi giá trị.
Đáng chú ý, vai trò của khoa học xã hội và nhân văn trong mô hình 4V1M cũng được đặt đúng vị trí. Không chỉ cung cấp luận cứ hoạch định chính sách, khoa học xã hội còn góp phần đánh giá tác động, xây dựng đồng thuận xã hội và khát vọng phát triển. Một “đội tuyển quốc gia” về khoa học và công nghệ phải là sự hội tụ của cả khoa học tự nhiên, công nghệ và khoa học xã hội.
Trao quyền đủ mạnh để 4V1M vận hành như một “đội tuyển”
Để 4V1M thực sự trở thành lực lượng chủ lực quốc gia, vấn đề cốt lõi là cơ chế.
Phòng sạch, Trung tâm Nano và Năng lượng, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, nơi đào tạo và nghiên cứu về bán dẫn. Ảnh: Giang Huy
Một định hướng quan trọng được nêu ra là thí điểm cấp ngân sách theo hình thức “block grant”, cấp một lần dựa trên cam kết đầu ra và mục tiêu chiến lược, trao quyền tự chủ tối đa cho các đơn vị trong sử dụng nguồn lực. Nhà nước sẽ đánh giá hiệu quả tổng thể thay vì can thiệp vào từng nhiệm vụ cụ thể. Cách làm này coi mỗi đơn vị như một “hộ tiêu dùng” khoa học và công nghệ, chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng.
Cùng với cơ chế tài chính là đầu tư có trọng tâm cho hạ tầng nghiên cứu. Theo Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, khoảng 20% tổng chi ngân sách khoa học và công nghệ dự kiến được dành cho hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia. Không chỉ đầu tư xây dựng, trang thiết bị, Nhà nước còn hỗ trợ kinh phí vận hành trong 3-5 năm đầu, cho phép cơ chế linh hoạt trong quản lý và khai thác.
"Phòng thí nghiệm trọng điểm phải hiện đại tương đương các nước phát triển và hoạt động theo cơ chế mở, dùng chung cho 4V và cộng đồng khoa học, doanh nghiệp. Hạ tầng nghiên cứu khi đó không chỉ là nơi đặt máy móc, mà là nền tảng để hình thành nhóm nghiên cứu mạnh, làm chủ công nghệ lõi và thương mại hóa kết quả" - Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh.
Về cơ chế hưởng thành quả, quan điểm rõ ràng là Nhà nước đầu tư để tạo ra tài sản trí tuệ, nhưng để tài sản sinh lời thì phải giao quyền sở hữu hoặc khai thác cho đơn vị chủ trì và tác giả. Nhà nghiên cứu được hưởng tỷ lệ lợi nhuận tối thiểu 30% hoặc hơn từ thương mại hóa kết quả. Đây là động lực quan trọng để chuyển hóa tri thức thành sản phẩm, doanh thu và giá trị kinh tế.
Ở cấp nhiệm vụ, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tổng hợp các bài toán lớn từ bộ, ngành, địa phương để hình thành nhiệm vụ khoa học và công nghệ quốc gia, đặt hàng cho 4 đơn vị chủ lực. Chỉ khi có mục tiêu lớn và bài toán đủ khó, sự gắn kết trong khối 4V1M mới thực sự bền chặt.
Bên cạnh đó là đề xuất xây dựng các khu thử nghiệm theo cơ chế sandbox (thử nghiệm có kiểm soát), tạo không gian thực chứng cho công nghệ mới và mô hình mới. Đây chính là “sân chơi” để ý tưởng được thử nghiệm nhanh, rút kinh nghiệm và nhân rộng.
Yếu tố con người cũng được đặt ở trung tâm. Các đơn vị được khuyến khích chủ động thuê các nhà nghiên cứu xuất sắc trong và ngoài nước để giải bài toán của Việt Nam, đồng thời xây dựng chương trình học bổng, tài trợ quốc gia để thu hút và giữ chân tài năng trẻ. Điều kiện tiên quyết là hạ tầng ngang tầm, bài toán đủ lớn và cơ chế hưởng thành quả minh bạch.
Tổ chức lại 4V1M như một “đội tuyển quốc gia” không chỉ là sắp xếp lại chương trình nghiên cứu, mà là tái cấu trúc cách đặt hàng khoa học, cách phân bổ nguồn lực và cách đo lường giá trị tri thức. Khi được trao đủ quyền, đủ nguồn lực và đủ trách nhiệm, 4V1M sẽ không chỉ là mô hình liên kết chiến lược, mà là lực lượng dẫn dắt, biến tri thức thành sức mạnh quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.
Theo Báo Hà Nội Mới