Pác Bó vào xuân. Không gian nơi địa đầu Tổ quốc khoác lên mình vẻ đẹp thanh khiết, giản dị như chính phong thái của Người. Núi rừng xanh non mơn mởn, suối Lê-nin róc rách chảy, nhịp thời gian tưởng chừng chậm lại giữa đất trời Cao Bằng trong veo. Nhưng ẩn sâu trong vẻ đẹp nguyên sơ ấy là một tầng trầm tích lịch sử thiêng liêng - nơi mùa xuân năm 1941, sau hơn 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trở về Tổ quốc, mang theo ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, thắp lên ngọn lửa cách mạng cho cả dân tộc Việt Nam. Trong hang Cốc Bó nhỏ hẹp, giữa muôn vàn gian khó, Bác Hồ đã sống, làm việc và suy nghĩ cho vận mệnh non sông. Từ bữa cơm rau rừng đạm bạc, chén nước suối trong veo, đến những đêm thao thức bên bàn đá chông chênh, Người lấy dân tộc làm gốc, lấy độc lập, tự do làm lẽ sống. Chính từ nơi núi rừng heo hút này, những quyết sách lịch sử mang tầm vóc thời đại đã được hình thành, dẫn dắt cách mạng Việt Nam tiến tới Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Pác Bó không chỉ là một địa danh lịch sử, nơi đây còn lưu giữ một nét văn hóa đặc biệt, lặng lẽ mà sâu sắc, nhiều gia đình tại xóm Pác Bó, xã Trường Hà thờ ảnh Bác Hồ và lập ban thờ riêng cho Người ngay trong gian thờ gia tiên. Không có chỉ dẫn hành chính, không mang tính nghi thức khuôn mẫu, việc làm ấy hoàn toàn xuất phát từ tình cảm tự nhiên, chân thành của nhân dân dành cho Bác. Trong những nếp nhà đơn sơ giữa núi rừng, làn khói hương mỗi sớm, mỗi chiều quyện hòa giữa ban thờ tổ tiên và ban thờ Bác Hồ. Với người dân Pác Bó, đó không phải là hai không gian tách biệt mà là sự hòa chung trong một cõi thiêng liêng của gia đình. Bác không đứng ngoài đời sống, càng không ở vị trí xa vời của một lãnh tụ mà hiện diện như người Cha hiền, người Bác gần gũi - một thành viên ruột thịt trong mỗi mái nhà.
Ông Dương Chí Quân, gần 80 tuổi, cháu nội cụ Dương Văn Đình (người đã có công che chở, giúp đỡ Bác Hồ khi Người trở về Pác Bó hoạt động cách mạng năm 1941) xúc động chia sẻ: Gia đình tôi vinh dự được Bác tin cậy và ở cùng, cùng ăn, cùng sinh hoạt trong những ngày đầu gian khó. Bác sống giản dị như người trong nhà, ân cần, ấm áp. Với chúng tôi, Bác không phải là lãnh tụ xa vời mà là người ông hiền, người cha bao dung. Đặc biệt, mùa xuân năm 1961, khi Bác Hồ trở lại thăm Pác Bó, tôi khi ấy mới 14 tuổi, may mắn được gặp Bác, chụp ảnh lưu niệm và nghe Bác hỏi han bà con từng việc nhỏ, từ nương ngô, con trâu đến cuộc sống con cháu. Những ký ức ấy đã trở thành gia bảo tinh thần vô giá, được các thế hệ trong gia đình họ Dương gìn giữ, trân trọng như chính cội nguồn của mình.
Với gia đình ông Quân và nhiều gia đình khác ở Pác Bó, con cháu trước khi đi làm ăn xa, đi học, đi bộ đội… đều thắp nén hương trước ban thờ Bác như thưa gửi với người thân. Ngày lễ, ngày Tết, ảnh Bác được lau chùi cẩn thận, bát hương được thay tro sạch sẽ. Không cần những lời khấn cầu cầu kỳ, chỉ là sự thầm thì mộc mạc: mong con cháu sống cho phải đạo, làm người cho tử tế, không phụ công ơn Đảng, ơn Bác.
Mỗi khi Tết đến, xuân về, người dân trong và ngoài tỉnh chọn hành trình về nguồn tại Pác Bó để tưởng nhớ, tri ân Bác Hồ.
Không chỉ các bậc cao niên mà ngay cả những gia đình trẻ hôm nay vẫn tiếp nối truyền thống ấy. Anh Dương Trung Hiệp, một người con của Pác Bó chia sẻ khi đang chuẩn bị mâm cúng Tết: Theo phong tục người Tày, Nùng, người đã khuất được thờ phụng như bậc cha ông. Bác Hồ đã gắn bó, chở che cho đồng bào nơi đây, nên lập ban thờ Bác trong nhà là điều rất tự nhiên. Ra ở riêng, tôi lập ban thờ Bác Hồ như cách gìn giữ ân nghĩa trời biển của Bác cho thế hệ mai sau.
Bác Hồ đã ở lại mãi trong tâm trí, ký ức người dân Pác Bó qua bao thế hệ. Dù Người đã đi xa nhưng chưa bao giờ rời khỏi mỗi mái nhà. Bác hiện diện trong làn khói hương bảng lảng nơi gian thờ, trong bếp lửa ấm của người mẹ tảo tần, trong lời dặn con cháu sống cho tử tế, nghĩa tình. Bác ở trong lớp học vùng cao, nơi những đứa trẻ lần đầu ê a con chữ. Bác ở trong những ngôi nhà nhỏ nơi lá cờ Tổ quốc tung bay mỗi dịp lễ, Tết với niềm tự hào lặng lẽ mà sâu xa.
Nét văn hóa thờ Bác Hồ ở Pác Bó cho thấy một chiều sâu đặc biệt trong mối quan hệ giữa lãnh tụ và nhân dân - mối quan hệ được kết tinh không chỉ bằng lý tưởng cách mạng, mà bằng tình cảm gia đình, bằng đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của người Việt. Khi Bác Hồ được thờ cùng tổ tiên, điều đó cũng có nghĩa là Bác đã trở thành một phần của cội nguồn tinh thần dân tộc - sự tôn kính cao nhất, bền vững nhất, không phô trương, không hình thức mà ăn sâu vào đời sống thường nhật. Và có lẽ, chính từ những mái nhà nhỏ bé nơi xóm Pác Bó, ta hiểu sâu sắc hơn vì sao Bác Hồ sống mãi trong lòng dân tộc. Bởi Người không chỉ là lãnh tụ của đất nước, mà là người thân của mỗi gia đình Việt Nam, được yêu thương, gìn giữ và nhớ mãi như máu thịt ruột rà.
Xuân về nhớ Bác, mọi người kể với nhau, nhớ đến Bác bằng những điều rất đời thường: “ăn Tết tiết kiệm”, “sống cho trong sạch”, “làm việc cho dân”... Không phải bằng những khẩu hiệu lớn lao, mà bằng lối sống giản dị, sự cống hiến. Đó chính là điều làm nên sức sống bền bỉ của tư tưởng Hồ Chí Minh - thấm sâu, lan tỏa, âm thầm mà bền chặt. Đặc biệt, đón xuân mới về trên Pác Bó, ta càng thấm thía hơn giá trị của độc lập, tự do - những điều tưởng như hiển nhiên nhưng đã được đánh đổi bằng mồ hôi, xương máu và cả cuộc đời của biết bao thế hệ. Xuân Pác Bó vì thế mang một ý nghĩa đặc biệt: mùa xuân của ký ức, của niềm tin và của lòng biết ơn sâu nặng. Khi Bác Hồ vẫn ở trong mỗi mái nhà, cũng là khi tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người vẫn hiện hữu trong đời sống hôm nay. Đó chính là điểm tựa tinh thần để đồng bào Pác Bó nói riêng và mỗi người Việt Nam nói chung tiếp tục sống tử tế, làm việc tận tâm, giữ trọn niềm tin vào con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn.
Thúy Hằng