Xuất khẩu của Việt Nam dần thoát khỏi đáy 'đường cong nụ cười' nhưng ...

Xuất khẩu của Việt Nam dần thoát khỏi đáy 'đường cong nụ cười' nhưng ...
một giờ trướcBài gốc
Năm 2025 khép lại với những kỷ lục tăng trưởng ấn tượng, đưa kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam xác lập vị thế mới trên bản đồ thương mại toàn cầu. Tuy nhiên, bước sang năm 2026, tiến trình hội nhập được dự báo sẽ đối mặt với không ít thách thức từ các hàng rào kỹ thuật khắt khe và áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Nhằm nhận diện cơ hội, định vị rủi ro và tìm kiếm giải pháp bứt phá cho cộng đồng doanh nghiệp, Pháp Luật TP.HCM đã có cuộc trao đổi đầu xuân Bính Ngọ 2026 cùng Tiến sĩ Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa Việt Nam (VINASME).
Dấu ấn xuất khẩu kỷ lục cùng nhiều thách thức
- Phóng viên: Thưa ông, năm 2025 vừa qua đã đánh dấu một cột mốc kỷ lục lịch sử của xuất khẩu Việt Nam. Ông nhìn nhận thế nào về điểm sáng này?
+ Tiến sĩ Tô Hoài Nam: Năm 2025 thực sự là một cột mốc vô cùng đặc biệt, khẳng định vị thế và vai trò rõ nét hơn của nền kinh tế Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Khái quát lại, tôi cho rằng kỷ lục này được bồi đắp từ bốn điểm sáng mang tính nền tảng.
Tiến sĩ Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa Việt Nam (VINASME)
Thứ nhất, quy mô xuất khẩu được mở rộng phản ánh sự thăng hạng về năng lực sản xuất và khả năng tổ chức chuỗi cung ứng. Đặc biệt, chúng ta thấy rõ khả năng thích ứng linh hoạt của doanh nghiệp Việt Nam khi mối liên kết giữa khối FDI và doanh nghiệp nội địa được nâng tầm. Số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) trong nước tham gia thành công vào chuỗi cung ứng khắt khe của khối FDI đã tăng lên đáng kể.
Thứ hai, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu có sự chuyển dịch vô cùng tích cực. Tỷ trọng của các nhóm ngành điện tử, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và nông sản chế biến sâu đã tăng mạnh. Trước đây chúng ta thường đứng ở tầng thấp của chuỗi cung ứng, chủ yếu dựa vào lao động giá rẻ. Việc hàng hóa qua chế biến sâu gia tăng tỷ trọng là chỉ dấu quan trọng cho thấy hàm lượng giá trị thặng dư đã cao hơn. Chúng ta đang nâng cấp chuỗi giá trị và dần thoát khỏi đáy của "đường cong nụ cười"- nơi tập trung các khâu gia công, lắp ráp, thâm dụng lao động… nhưng giá trị thấp.
.
Các mặt hàng nông sản Việt Nam đang từng bước chinh phục khách hàng toàn cầu bằng chất lượng cao. Ảnh: QUANG HUY
Thứ ba, cộng đồng doanh nghiệp đã tận dụng cực kỳ tốt các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA). Nhiều doanh nghiệp đã chủ động đáp ứng các quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật phức tạp để mở rộng thị trường, đặc biệt là thâm nhập sâu vào thị trường châu Âu và Bắc Mỹ – những khu vực mới nổi đầy tiềm năng đối với các sản phẩm nông nghiệp sạch, chất lượng cao.
Thứ tư, vai trò của khu vực kinh tế trong nước đã được cải thiện một cách ngoạn mục. Trước đây, xuất khẩu chủ yếu do khối FDI gánh vác, nhưng nay tỷ trọng đóng góp của doanh nghiệp nội đã tăng lên. Điều này cho thấy nội lực của khối doanh nghiệp tư nhân đã được củng cố vững chắc khi trực tiếp cọ sát và tham gia sâu vào chuỗi giá trị.
- Từ nền tảng trên, bước sang năm 2026, bức tranh thương mại toàn cầu được dự báo đầy biến động. Đâu là những thách thức lớn nhất?
+ TS Tô Hoài Nam: Bước sang năm 2026, chúng ta cần một tâm thế mới. Hoạt động xuất khẩu bắt buộc phải được nhìn nhận dưới góc độ đề cao tính thích ứng và hướng nhiều đến yếu tố bền vững, tuyệt đối đừng chỉ chạy theo doanh thu bề nổi.
Nếu tiếp cận từ góc độ quản trị chính sách và thực tiễn thị trường, doanh nghiệp sẽ phải đối diện với sức ép vô hình lẫn hữu hình rất lớn. Một là sự gia tăng đột biến của các rào cản kỹ thuật và tiêu chuẩn xanh từ các thị trường nhập khẩu lớn. Hai là biến động kinh tế toàn cầu dẫn đến xu thế bảo hộ thương mại; nhiều quốc gia đang cố tình thiết lập các rào cản tinh vi để bảo vệ hàng hóa nội địa và điều chỉnh lại chuỗi cung ứng nhằm ưu tiên khu vực của họ.
Hàng hóa Việt Nam sẽ đối mặt nhiều tiêu chuẩn khắt khe từ thị trường quốc tế năm Bính Ngọ. Ảnh: MINH LONG
Ba là chi phí tuân thủ và chi phí logistics hiện vẫn đang ở mức quá cao, tạo áp lực sống còn lên biên lợi nhuận của khối SME. Bốn là sự cạnh tranh sẽ ngày càng gay gắt. Chúng ta không chạy một mình, các quốc gia đối thủ cũng đang dốc sức vươn lên. Cuối cùng, yêu cầu về chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc và minh bạch dữ liệu đang dần trở thành một bộ tiêu chuẩn mặc định của thương mại quốc tế. Nếu không có sự chuẩn bị sớm, doanh nghiệp có thể rơi vào bẫy tăng trưởng ngắn hạn nhưng đánh mất sự bền vững trong dài hạn.
Giải pháp thực chiến giúp giới doanh nghiệp vượt khó
- Nhiều ý kiến cho rằng rào cản kỹ thuật và tiêu chuẩn xanh đang trở thành luật chơi mới vô cùng khắt khe, ông có thể phân tích thêm về vấn đề này?
+ TS Tô Hoài Nam: Đúng vậy, rào cản kỹ thuật và tiêu chuẩn xanh không còn là câu chuyện của tương lai, mà là điều kiện sinh tử ngay lúc này. Các thị trường lớn đưa ra các quy định này với hai mục đích: một mặt để bảo vệ nền sản xuất của họ trước hàng nhập khẩu giá rẻ, mặt khác để ép buộc chuỗi cung ứng toàn cầu tuân thủ cam kết bảo vệ môi trường.
Nếu hàng hóa của chúng ta không thể truy xuất được nguồn gốc minh bạch, không chứng minh được quy trình sản xuất giảm thiểu phát thải carbon hay tuân thủ các quyền lợi lao động thì chắc chắn sẽ bị loại khỏi cuộc chơi, bất kể giá cả có cạnh tranh đến đâu. Đây là một màng lọc vô cùng khắc nghiệt.
Doanh nghiệp xuất khẩu không ngừng nỗ lực đổi mới công nghệ nhằm gia tăng sức cạnh tranh toàn cầu. Ảnh: MINH LONG
- Trước hàng loạt sức ép cạnh tranh khốc liệt như vậy, cộng đồng doanh nghiệp cần chiến lược hành động cụ thể nào để bứt phá xuất khẩu trong năm 2026?
+ TS Tô Hoài Nam: Để không bị bỏ lại phía sau, các doanh nghiệp bắt buộc phải xoay trục chiến lược dựa trên các định hướng cốt lõi sau.
Đầu tiên, phải nâng chuẩn quản trị nội bộ và nghiêm túc tuân thủ các chuẩn mực quốc tế. Thứ hai, tích cực và quyết liệt chuyển đổi số toàn diện. Quá trình số hóa này phải bao trùm từ khâu quản trị đơn hàng, logistics, thanh toán điện tử cho đến việc tích hợp dữ liệu thị trường để có thể xử lý thông tin ngay lập tức. Đây là điều kiện tiên quyết để cạnh tranh tốc độ trong thời đại mới.
Thứ ba, tiếp tục đa dạng hóa thị trường và chuỗi cung ứng. Tuyệt đối tránh việc bỏ "tất cả trứng vào một giỏ", phụ thuộc quá lớn vào một vài thị trường lớn. Doanh nghiệp cần chủ động khai phá các thị trường tiềm năng và khu vực ngách mới.
Thứ tư, không ngừng liên kết với nhau để hình thành một hệ sinh thái xuất khẩu vững mạnh. Khối SME cần hợp lực lại, đồng thời bám sát các doanh nghiệp đầu tàu để nâng cao tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước. Chúng ta phải kiên quyết chuyển dịch từ gia công đơn thuần sang sản xuất có công nghệ, có thương hiệu và mang hàm lượng tri thức cao.
Kiến tạo thể chế đồng hành cùng khát vọng lớn
- Rõ ràng doanh nghiệp không thể đơn độc vượt sóng. Theo ông, cơ quan quản lý nhà nước cần thể hiện vai trò kiến tạo ra sao lúc này?
+ TS Tô Hoài Nam: Một mình doanh nghiệp, đặc biệt là khối SME, không đủ sức bơi ra biển lớn nếu thiếu bàn tay nâng đỡ của Nhà nước. Cơ quan nhà nước phải tham gia sâu vào quá trình kiến tạo và hỗ trợ với những hành động cụ thể.
Thứ nhất, phải hoàn thiện thể chế theo đúng tinh thần kiến tạo và đồng hành thực chất. Điều này phải được cụ thể hóa bằng việc cắt giảm tối đa chi phí tuân thủ, đơn giản hóa mạnh mẽ các thủ tục hành chính và thủ tục xuất nhập khẩu.
Thứ hai, Nhà nước cần xây dựng một hệ thống chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế một cách thiết thực. Đó là hỗ trợ chi phí chuyển đổi xanh, thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc, cấp chứng nhận chất lượng và cung cấp thông tin cảnh báo thị trường chứ không thể chỉ hô hào chung chung.
Khách hàng quốc tế ngày càng đánh giá cao năng lực cung ứng bền vững của doanh nghiệp Việt Nam. Ảnh: QUANG HUY
Thứ ba, cần tập trung nguồn lực phát triển hạ tầng logistics và thương mại quốc tế. Đây là yếu tố nền tảng mà doanh nghiệp không thể tự làm. Hạ tầng tốt sẽ giúp giảm chi phí, tiết kiệm thời gian thông quan và trực tiếp nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng hóa Việt Nam trên trường quốc tế.
Nếu doanh nghiệp chủ động nâng cấp nội lực, cộng hưởng với việc Nhà nước tiếp tục cải cách thể chế theo hướng phục vụ, xuất khẩu Việt Nam hoàn toàn có thể bước vào giai đoạn bứt tốc mới, mở rộng chuỗi cung ứng một cách bền vững và giữ vững thị trường nội địa.
- Xin cảm ơn ông!
Bài học chính sách kịp thời sát thực tế
- Mới đây, sự cố vướng mắc liên quan đến Nghị định 46 đã gây xáo trộn cho hàng hóa xuất nhập khẩu, dù Chính phủ đã nhanh chóng xử lý. Chúng ta rút ra được điều gì từ sự việc này?
+ TS Tô Hoài Nam: Việc Chính phủ lập tức ra nghị quyết tạm dừng áp dụng quy định gây vướng của Nghị định 46 là một động thái khơi thông rất kịp thời. Tuy nhiên, nhìn sâu xa hơn, đây là bài học lớn về tư duy quản lý.
Thứ nhất, quản lý nhà nước nhằm đảm bảo kỷ cương phải luôn đi kèm với việc tạo thuận lợi thương mại. Thể chế bắt buộc phải theo kịp thực tiễn. Việc ban hành một chính sách đưa ra điều kiện vượt quá năng lực đáp ứng tức thời của doanh nghiệp, tạo ra "sốc chính sách" là điều tối kỵ. Khi áp dụng các tiêu chuẩn mới, bắt buộc phải có lộ trình chuyển tiếp rõ ràng để doanh nghiệp có thời gian chuẩn bị.
Thủy sản xuất khẩu của Việt Nam đáp ứng mọi tiêu chuẩn toàn cầu, mang lại sự an tâm cho đối tác ngoại. Ảnh: MINH LONG
Thứ hai, trước khi ban hành chính sách, cần tăng cường khâu tham vấn thực chất ý kiến của doanh nghiệp và các tổ chức hiệp hội, đồng thời đảm bảo tính liên thông giữa các bộ ngành.
Thứ ba, cần nhanh chóng hướng tới số hóa hải quan và quản lý theo nguyên tắc quản trị rủi ro. Doanh nghiệp nào tuân thủ tốt, cần giải phóng thủ tục cho họ; chỉ siết chặt với nhóm có rủi ro cao. Trong kỷ nguyên hiện nay, tốc độ thông quan quyết định sinh mệnh cạnh tranh của doanh nghiệp, chậm một nhịp là thua thiệt khôn lường.
Chủ động thích ứng, kiến tạo vị thế xuất khẩu bền vững
Để duy trì đà tăng trưởng, các doanh nghiệp xuất khẩu đang ráo riết xoay trục chiến lược. Thay vì chạy theo sản lượng, các ngành chủ lực tập trung vào chế biến sâu và chuẩn hóa chất lượng cao, đồng thời đầu tư công nghệ số nhằm kiến tạo bệ phóng xuất khẩu bền vững.
Ông PHẠM XUÂN HỒNG, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may thời trang TP.HCM kiêm Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần May Sài Gòn 3:
Ổn định đơn hàng đầu năm, chủ động đầu tư công nghệ
Đánh giá về bức tranh xuất khẩu ngành dệt may trong năm 2026, tình hình đơn hàng đầu năm đang duy trì ở mức tương đối ổn định. Đa số các doanh nghiệp đã ký kết hợp đồng sản xuất ít nhất cho ba tháng đầu năm, thậm chí nhiều đơn vị đã chốt xong đơn hàng đến hết quý ba. Lượng hàng hóa sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán nhìn chung khá dồi dào, tạo nhịp độ sản xuất tích cực ngay từ những tháng đầu năm.
Đối với bức tranh xuất khẩu chung, đặc biệt là tại thị trường Mỹ, các doanh nghiệp dệt may vẫn đang trong tâm thế chờ đợi những động thái chính sách mới. Dù vậy, toàn ngành vẫn giữ vững kỳ vọng vào sự phục hồi của tổng cầu thị trường. Thay vì thụ động, các đơn vị sản xuất đã nỗ lực xoay xở, tích cực tìm kiếm và mở rộng tệp khách hàng mới. Mục tiêu trước mắt trong năm nay là giữ vững kế hoạch sản xuất, ưu tiên sự ổn định làm nền tảng trước khi hướng tới các mục tiêu tăng trưởng cao hơn.
Về bài toán nhân lực, sự dịch chuyển lao động sau Tết có xảy ra nhưng không đáng lo ngại. Trong bối cảnh nền kinh tế chung còn nhiều khó khăn, người lao động hiện nay có xu hướng trân trọng việc làm, ưu tiên sự ổn định gắn bó với nhà máy. Do đó, lực lượng sản xuất của các doanh nghiệp nhìn chung vẫn được bảo đảm để đáp ứng kịp thời tiến độ giao hàng.
Riêng đối với yêu cầu chuyển đổi số và nâng cấp chuỗi logistics, quan điểm chung của ngành là phải đầu tư thận trọng và thực tế. Các doanh nghiệp bắt buộc phải từng bước cải tiến khâu quản lý bằng công nghệ số và trang bị máy móc mới. Tuy nhiên, tốc độ hiện đại hóa sản xuất phải tỷ lệ thuận với lượng đơn hàng và sự khởi sắc của thị trường. Việc nâng cấp công nghệ phải tiến hành dần dần, không thể đầu tư ồ ạt, thiếu tính toán trong bối cảnh sức mua toàn cầu chưa phục hồi hoàn toàn để tránh rủi ro cho doanh nghiệp.
Doanh nghiệp chủ động đầu tư công nghệ sản xuất các sản phẩm chế biến sâu có giá trị gia tăng cao. Ảnh: QUANG HUY
Ông TRẦN THANH HẢI, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương):
Kiến tạo động lực mới cho tăng trưởng xuất khẩu bền vững trong năm 2026
Bước vào năm 2026, nền kinh tế Việt Nam đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ để duy trì đà tăng trưởng xuất nhập khẩu trong bối cảnh thương mại toàn cầu chịu sức ép từ căng thẳng địa chính trị và xu hướng bảo hộ. Nhìn lại năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã thiết lập mốc kỷ lục khoảng 930 tỉ đồng, đánh dấu một thập kỷ xuất siêu liên tiếp với thặng dư hơn 20 tỉ đồng.
Dù cơ cấu hàng hóa chuyển dịch tích cực khi nhóm hàng công nghiệp chiếm lĩnh 85% tỉ trọng, bức tranh thương mại vẫn bộc lộ những điểm nghẽn cốt lõi. Sự tăng trưởng hiện tại phụ thuộc lớn vào khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong khi hàm lượng giá trị gia tăng nội địa còn mỏng, thiếu vắng thương hiệu quốc gia và nguồn nguyên liệu đầu vào chưa tự chủ đa dạng.
Để kiến tạo động lực mới, trọng tâm sản xuất trong giai đoạn tới là ráo riết phát triển các ngành công nghiệp nền tảng và đầu tư cho nghiên cứu phát triển nhằm nâng tầm giá trị nội địa.
Song song đó, cộng đồng doanh nghiệp cần khai thác tối đa thương mại điện tử xuyên biên giới và các hiệp định thương mại tự do để đa dạng hóa khách hàng, tránh rủi ro khi phụ thuộc vào một vài thị trường trọng điểm. Hoạt động xúc tiến thương mại cũng đòi hỏi sự lột xác toàn diện qua ứng dụng nền tảng số, gắn chặt xây dựng thương hiệu với tiêu chuẩn xanh và truy xuất nguồn gốc.
Cuối cùng, chuỗi logistics cần nhanh chóng tối ưu hóa chi phí, biến lợi thế địa chiến lược thành bệ phóng vững chắc đưa hàng hóa Việt Nam vươn xa bền vững.
Các doanh nghiệp Việt Nam cần liên kết với nhau để hình thành một hệ sinh thái xuất khẩu vững mạnh. Ảnh: QH
Ông NGUYỄN ĐÌNH TÙNG, Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, kiêm Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Vina T&T:
Xuất khẩu nâng tầm vị thế từ chất lượng và công nghệ
Năm 2025 ghi dấu ấn lịch sử cho ngành rau quả Việt Nam khi kim ngạch xuất khẩu xác lập kỷ lục mới, với sự bùng nổ mạnh mẽ của "ngôi sao" sầu riêng. Tuy nhiên, bước sang năm 2026, để tiếp tục đà tăng tốc và gặt hái thành công bền vững, chúng ta không thể chỉ dựa vào sản lượng mà phải chuyển dịch mạnh mẽ sang tư duy chất lượng và công nghệ.
Thứ nhất, chuẩn hóa mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói. Đây không còn là thủ tục hành chính mà là "giấy thông hành" sống còn. Doanh nghiệp (DN) cần phối hợp chặt chẽ với nông dân để duy trì kỷ luật trong canh tác, đảm bảo tuyệt đối các quy định về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật theo yêu cầu từ các nghị định thư. Việc vi phạm mã số vùng trồng không chỉ ảnh hưởng đến một lô hàng mà còn đe dọa uy tín của cả ngành hàng quốc gia.
Thứ hai, đầu tư hệ thống kho lạnh và chuỗi cung ứng hiện đại. Trái cây là mặt hàng có tính thời vụ cao và dễ hư hỏng. Việc làm chủ hệ thống kho lạnh và công nghệ bảo quản sau thu hoạch sẽ giúp DN chủ động điều tiết nguồn cung, kéo dài thời gian bán hàng và giảm thiểu rủi ro khi thị trường biến động. Đây chính là chìa khóa để nâng cao giá trị gia tăng thay vì chỉ xuất khẩu thô.
Để tiếp sức cho DN, tôi cho rằng các cơ quan chức năng cần tập trung vào việc đàm phán và giám sát nghị định thư. Theo đó, cần tiếp tục mở rộng các nghị định thư cho sầu riêng đông lạnh và các loại trái cây tiềm năng khác vào các thị trường lớn, đồng thời tăng cường kiểm tra để bảo vệ thành quả đã đạt được.
Bên cạnh đó là hỗ trợ hạ tầng logistics nông sản. Cần khuyến khích đầu tư vào các trung tâm logistics chuyên dụng, giúp giảm chi phí và nâng cao sức cạnh tranh cho trái cây Việt trên trường quốc tế. Năm 2026 sẽ là năm của sự chuyên nghiệp hóa. Với sự nhạy bén của DN và sự hỗ trợ kịp thời từ chính sách, tôi tin rằng ngành trái cây sẽ tiếp tục bứt phá, khẳng định vị thế bền vững trên bản đồ nông sản toàn cầu.
Ông NGUYỄN NAM HẢI, Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (VICOFA):
Kỳ vọng 2026: Chủ động trước biến số, sẵn sàng đáp ứng EUDR
Nhìn lại năm 2025, ngành hàng cà phê Việt Nam đạt thành tựu bước ngoặt trên ba phương diện: sản xuất, chế biến và xuất khẩu.
Về sản xuất: Nhờ giá cà phê duy trì mức cao, nông dân có nguồn lực tái đầu tư mạnh mẽ. Điểm sáng lớn nhất là sự chuyển dịch sang hướng phát triển bền vững, ứng dụng khoa học kỹ thuật nhằm tạo nguồn nguyên liệu chất lượng cao, đáp ứng khách hàng quốc tế.
Về khâu chế biến: Dù tỉ trọng xuất khẩu cà phê nhân thô vẫn chiếm ưu thế, năm 2025 ghi nhận sự chuyển mình rõ nét trong phân khúc chế biến sâu. Các doanh nghiệp lớn đẩy mạnh đầu tư công nghệ, gia tăng tỉ trọng sản phẩm chế biến nhằm nâng cao giá trị và khẳng định thương hiệu cà phê Việt.
Về giá trị xuất khẩu: Ngành cà phê lập đỉnh kỷ lục với sản lượng đạt gần 1,6 triệu tấn, mang về xấp xỉ 9 tỉ USD. Đạt được thành quả này có sự đồng hành quyết liệt của Chính phủ. Khi các vướng mắc liên quan đến hoàn thuế hay Nghị định 46 phát sinh, Chính phủ và các Bộ ngành lập tức tháo gỡ, tạo hành lang thông thoáng. VICOFA đánh giá rất cao sự kiến tạo và phản ứng chính sách linh hoạt này.
Bước sang năm 2026, xuất khẩu cà phê tiếp tục chịu tác động từ biến đổi khí hậu và biến động giá cả toàn cầu. Do đó, thay vì chạy theo chỉ tiêu định lượng, ngành sẽ tập trung phát triển theo chiều sâu.
Hàng hóa Việt Nam sẽ đối mặt nhiều tiêu chuẩn khắt khe từ thị trường quốc tế năm Bính Ngọ. Ảnh: QUANG HUY
Thứ nhất là kiên định sản xuất bền vững, đảm bảo sản phẩm đầu ra phù hợp tiêu chuẩn khắt khe của châu Âu cùng các thị trường trọng điểm khác.
Thứ hai là gia tăng chế biến sâu, "chìa khóa" thoát khỏi rủi ro biến động giá nguyên liệu thô.
Thứ ba, đa dạng hóa thị trường, giảm thiểu rủi ro phụ thuộc vào thị trường truyền thống.
Đặc biệt đối với Quy định chống phá rừng của châu Âu (EUDR), dù lộ trình áp dụng có được hoãn hay không, tâm thế của Việt Nam là hoàn toàn chủ động. Dưới sự chỉ đạo của Chính phủ và lộ trình từ Bộ Nông nghiệp & Môi trường, hầu hết doanh nghiệp xuất khẩu cà phê đã sẵn sàng điều kiện cung ứng sản phẩm đáp ứng 100% tiêu chuẩn EUDR ra toàn cầu.
QUANG HUY
Nguồn PLO : https://plo.vn/xuat-khau-cua-viet-nam-dan-thoat-khoi-day-duong-cong-nu-cuoi-nhung-post896393.html