Xuất khẩu nông lâm thủy sản 4 tháng: Tăng trưởng trong thách thức

Xuất khẩu nông lâm thủy sản 4 tháng: Tăng trưởng trong thách thức
3 giờ trướcBài gốc
Tuy nhiên, đằng sau con số tích cực này là những dấu hiệu chững lại trong ngắn hạn, áp lực giảm giá ở nhiều mặt hàng chủ lực và sự phân hóa rõ nét giữa các thị trường xuất khẩu, đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao giá trị gia tăng và đa dạng hóa thị trường trong thời gian tới.
Biến động thị trường và áp lực giảm giá nhiều mặt hàng chủ lực
Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam trong tháng 4-2026 ước đạt 6,05 tỷ USD, giảm 3,8% so với tháng trước và giảm nhẹ 0,8% so với cùng kỳ năm 2025. Diễn biến này cho thấy đà tăng trưởng đang có dấu hiệu chững lại trong ngắn hạn, phản ánh những khó khăn nhất định của thị trường xuất khẩu.
Tuy nhiên, tính chung 4 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản vẫn đạt khoảng 23,04 tỷ USD, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng trưởng tương đối tích cực trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động, nhu cầu tiêu dùng chưa phục hồi hoàn toàn và áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng.
Hàng nông sản tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất với giá trị xuất khẩu đạt 12,16 tỷ USD, tăng nhẹ 1,5%. Ảnh: PV
Xét theo cơ cấu, nhóm hàng nông sản tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất với giá trị xuất khẩu đạt 12,16 tỷ USD, tăng nhẹ 1,5%. Trong khi đó, nhóm sản phẩm chăn nuôi ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng nhất, đạt 245 triệu USD, tăng tới 45,5% so với cùng kỳ năm 2025. Thủy sản cũng duy trì đà tăng khá với 3,59 tỷ USD, tăng 11,9%.
Ngược lại, lâm sản - một trong những ngành xuất khẩu chủ lực – chỉ đạt 5,82 tỷ USD, tăng 0,8%, cho thấy dấu hiệu tăng trưởng chậm lại. Đáng chú ý, nhóm đầu vào sản xuất đạt 1,22 tỷ USD, tăng mạnh 66,2%, phản ánh nhu cầu gia tăng trong chuỗi cung ứng sản xuất nông nghiệp.
Xuất khẩu rau quả tiếp tục tăng trưởng mạnh. Anh: PV
Về thị trường xuất khẩu, châu Á tiếp tục là khu vực tiêu thụ lớn nhất của nông lâm thủy sản Việt Nam, chiếm 44,1% tổng kim ngạch và tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của khu vực này, đặc biệt là các thị trường gần như Trung Quốc.
Châu Mỹ và châu Âu lần lượt chiếm 20,9% và 15,8% thị phần. Tuy nhiên, xuất khẩu sang châu Mỹ giảm 3,5%, trong khi châu Âu chỉ tăng nhẹ 3,7%.
Đáng lo ngại hơn, xuất khẩu sang châu Phi giảm mạnh tới 26%, cho thấy những khó khăn trong việc duy trì thị trường tại khu vực này. Ngược lại, châu Đại Dương ghi nhận mức tăng trưởng cao 19,8%, dù quy mô còn nhỏ.
Xét theo từng thị trường cụ thể, Trung Quốc tiếp tục là đối tác lớn nhất với thị phần 21,1% và mức tăng trưởng lên tới 28,8%. Hoa Kỳ đứng thứ hai với 18,5% thị phần nhưng lại giảm 4,8%, phản ánh nhu cầu suy yếu hoặc sự cạnh tranh gia tăng tại thị trường này. Nhật Bản đứng thứ ba với 7% thị phần và tăng trưởng nhẹ 1,3%.
Ở cấp độ mặt hàng, nhiều sản phẩm chủ lực đang chịu áp lực giảm giá. Cà phê là ví dụ điển hình khi khối lượng xuất khẩu 4 tháng đầu năm tăng 15% nhưng giá trị lại giảm 7,8%, cho thấy giá xuất khẩu bình quân giảm đáng kể.
Tương tự, gạo cũng giảm cả về khối lượng (2,3%) và giá trị (11,1%), phản ánh xu hướng giảm giá trên thị trường quốc tế.
Một số mặt hàng khác như cao su và hạt điều cũng ghi nhận tình trạng tương tự khi giá trị xuất khẩu giảm dù sản lượng không giảm đáng kể. Điều này cho thấy bài toán lớn hiện nay không chỉ là mở rộng sản lượng mà còn phải nâng cao giá trị gia tăng.
Ở chiều tích cực, rau quả và thủy sản tiếp tục là những điểm sáng khi duy trì được mức tăng trưởng ổn định. Đặc biệt, thủy sản đạt 3,59 tỷ USD, tăng 11,9%, cho thấy nhu cầu thị trường vẫn khả quan đối với nhóm sản phẩm này.
Tiếp tục đa dạng hóa thị trường xuất khẩu
Trước những cơ hội và thách thức đan xen, việc duy trì và thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu nông lâm thủy sản trong thời gian tới đòi hỏi các giải pháp đồng bộ, linh hoạt. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trước hết, cần tiếp tục đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, giảm phụ thuộc vào một số thị trường lớn như Trung Quốc hay Mỹ.
Việc mở rộng sang các thị trường tiềm năng như Trung Đông, Nam Á hay châu Phi (dù đang suy giảm) vẫn là hướng đi cần thiết nhằm phân tán rủi ro.
Ngoài ra, nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm là yếu tố then chốt. Thực tế cho thấy nhiều mặt hàng dù tăng sản lượng nhưng giá trị lại giảm do giá xuất khẩu thấp. Do đó, cần đẩy mạnh chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế để nâng cao giá bán.
Các địa phương đa dạng hóa thị trường tiêu thụ nông sản trong và ngoài nước. Ảnh: PV
Bên cạnh đó, tăng cường khả năng dự báo thị trường và điều tiết sản xuất. Việc sản xuất ồ ạt theo phong trào có thể dẫn đến dư cung, kéo giá xuống thấp. Do đó, cần có hệ thống thông tin thị trường hiệu quả để định hướng sản xuất phù hợp với nhu cầu. Cùng với đó, việc tận dụng các hiệp định thương mại tự do (FTA) cũng cần được đẩy mạnh hơn nữa. Đây là cơ hội để giảm thuế quan, mở rộng thị trường và nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hóa Việt Nam; thúc đẩy chuyển đổi số trong nông nghiệp và thương mại nông sản, từ truy xuất nguồn gốc đến thương mại điện tử nhằm tăng tính minh bạch và tiếp cận trực tiếp với người tiêu dùng toàn cầu.
Nhìn chung, xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực, nhưng đối mặt không ít thách thức, đặc biệt là áp lực giảm giá và sự biến động của thị trường. Trong bối cảnh đó, việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng và giá trị sẽ là chìa khóa để ngành nông nghiệp phát triển bền vững hơn...
Quỳnh Dung
Nguồn Hà Nội Mới : https://hanoimoi.vn/xuat-khau-nong-lam-thuy-san-4-thang-tang-truong-trong-thach-thuc-748375.html