Trong Quý I/2026, có tới 7 nhóm hàng xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD và đều ở mốc cao nhất nhì từ trước tới nay.
Xuất khẩu hàng hóa theo tháng lập kỷ lục mới
Số liệu cập nhật của Cục Hải quan công bố ngày 17/4/2026 cho biết, xuất khẩu hàng hóa trong tháng 3/2026 đạt 46,44 tỷ USD, tăng 40% (tương ứng tăng tới 13,27 tỷ USD) so với tháng trước và đạt mốc kỷ lục từ trước tới nay. Trong đó, có tới 7 nhóm hàng xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD và đều ở mốc cao nhất nhì từ trước tới nay.
Cụ thể là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 13,01 tỷ USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng đạt 5,7 tỷ USD; điện thoại các loại và linh kiện đạt 5,60 tỷ USD; hàng dệt may đạt 3,16 tỷ USD; giày dép các loại đạt 1,95 tỷ USD; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1,39 tỷ USD; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 1,64 tỷ USD và cà phê đạt 1,06 tỷ USD. Tính chung, trị giá xuất khẩu của 7 nhóm hàng này đạt 32,45 tỷ USD, chiếm 70% trong tổng trị giá xuất khẩu của cả nước.
Tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa trong quý I/2026 đạt 122,93 tỷ USD, tăng 19% so với cùng kỳ năm trước. Quy mô hàng hóa xuất khẩu trong quý I/2026 tăng tới 19,62 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có 5 nhóm hàng tăng trên 500 triệu USD so với cùng kỳ năm trước. Đó là, nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 9,61 tỷ USD; điện thoại các loại và linh kiện tăng 2,71 tỷ USD; máy móc, thiết bị và phụ tùng tăng 2,62 tỷ USD; đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận tăng 0,68 tỷ USD và phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 0,52 tỷ USD. Tính chung, tổng trị giá xuất khẩu 5 nhóm hàng này tăng 16,14 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước.
Bên cạnh đó, xuất khẩu một số nhóm hàng lại giảm so với cùng kỳ năm trước như xăng dầu các loại giảm 198 triệu USD, cà phê giảm 147 triệu USD, gạo giảm 131 triệu USD, dầu thô giảm 103 triệu USD…
Trị giá xuất khẩu của 10 nhóm hàng lớn nhất trong quý I/2025 và quý I/2026. (Nguồn: Cục Hải quan)
Tình hình một số nhóm hàng xuất khẩu chính
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: Trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng 3/2026 đạt 13 tỷ USD, qua đó nâng mức trị giá xuất khẩu trong 3 tháng năm 2026 đạt 30,72 tỷ USD, chiếm tới 25% tổng trị giá xuất khẩu của cả nước và tăng 45,5% (tương ứng tăng 9,61 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước.
Xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện trong quý I/2026 chủ yếu sang các thị trường như Hoa Kỳ với 12,36 tỷ USD, tăng 65,5% so với cùng kỳ năm trước; Trung Quốc với 4,39 tỷ USD, tăng 20,7%; EU (27 nước) với 2,89 tỷ USD, tăng 19,6%; Hồng Kông (Trung Quốc) với 3,09 tỷ USD, tăng 50,2%; Hàn Quốc với 2,46 tỷ USD, tăng 24,5% so với cùng kỳ năm trước.
Điện thoại các loại và linh kiện: Xuất khẩu nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện trong tháng 3/2026 là 5,6 tỷ USD, tăng 2,1% so với tháng trước. Trị giá xuất khẩu nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện trong quý I/2026 đạt 16,75 tỷ USD, chiếm 14% tổng trị giá xuất khẩu của cả nước và tăng 19,3% (tương ứng tăng 2,71 USD) so với cùng kỳ năm trước.
Xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện trong quý I/2026 chủ yếu sang các thị trường như Trung Quốc đạt 3,54 tỷ USD, tăng 30,9%; Hoa Kỳ đạt 2,67 tỷ USD, giảm 2,7%; EU (27 nước) đạt 2,35 tỷ USD, tăng 5,5%; Hàn Quốc đạt 1,82 tỷ USD, tăng 133% so với cùng kỳ năm trước.
Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác: Trị giá xuất khẩu nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng trong tháng 3/2026 là 5,7 tỷ USD, tăng 48,1% so với tháng trước. Tính chung, trị giá xuất khẩu nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng trong quý I/2026 đạt 15 tỷ USD, tăng 21,2% (tương ứng tăng 2,62 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước.
Xuất khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng trong 3 tháng/2026 chủ yếu sang các thị trường như Hoa Kỳ đạt 6,14 tỷ USD, tăng 16,8%; EU(27 nước) đạt 1,75 tỷ USD, tăng 1,7%; Trung Quốc đạt 1,4 tỷ USD, tăng 80,6%; Hồng Kông (Trung Quốc) đạt 1,16 tỷ USD, tăng 75,5%; ASEAN đạt 950 triệu USD, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm trước.
Gỗ và sản phẩm gỗ: Tháng 3/2026, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1,39 tỷ USD, tăng 42,5% so với tháng trước. Tính chung, trị giá xuất khẩu hàng dệt may trong quý I/2026 đạt 3,99 tỷ USD, tăng 1,1% (tương ứng tăng 44,3 triệu USD) so với cùng kỳ năm trước.
Trong quý I/2026, xuất khẩu nhóm hàng gỗ và sản phẩm gỗ sang Hoa Kỳ đạt 1,96 tỷ USD, giảm 8,3%; Trung Quốc đạt 608 triệu USD, tăng 47,2%; EU (27 nước) đạt 236 triệu USD, tăng 46,4%; Nhật Bản đạt 540 triệu USD, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước.
Hàng dệt may: Tháng 3/2026, xuất khẩu hàng dệt may đạt 3,16 tỷ USD, tăng 29,8% so với tháng trước. Tính chung, trị giá xuất khẩu hàng dệt may trong quý I/2026 đạt 8,86 tỷ USD, tăng 1,9% (tương ứng tăng 166 triệu USD) so với cùng kỳ năm trước.
Trong quý I/2026, xuất khẩu nhóm hàng dệt may sang Hoa Kỳ đạt 3,93 tỷ USD, tăng 3,7%; EU (27 nước) đạt 1,04 tỷ USD, tăng 13,2%; Nhật Bản đạt 1 tỷ USD, giảm 6,7% và Hàn Quốc đạt 735 triệu USD, giảm 11,1% so với cùng kỳ năm trước.
Giày dép các loại: Tháng 3/2026, xuất khẩu giày dép các loại đạt 1,95 tỷ USD, tăng 37,7% so với tháng trước. Tính chung, trị giá xuất khẩu giày dép các loại trong quý I/2026 đạt 5,42 tỷ USD, tăng 0,8% (tương ứng tăng 43 triệu USD) so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ là 2,15 tỷ USD, tăng 9% và EU (27 nước) là 1,4 tỷ USD, tăng 3,1%. Tính chung, trị giá xuất khẩu giày dép các loại sang 2 thị trường này chiếm tới 65% trong tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước.
Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận: Trị giá xuất khẩu đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận trong tháng 3/2026 đạt 746 triệu USD, qua đó nâng tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong quý I/2026 đạt 1,92 tỷ USD, tăng 54,9% (tương ứng tăng 0,68 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước.
Trong quý I/2026, nhóm hàng đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận xuất sang thị trường Hoa Kỳ đạt 919 triệu USD, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm trước; Nhật Bản đạt 289 triệu USD, tăng 154% và EU (27 nước) đạt 241 triệu USD, tăng 93,4%. Tính chung, trị giá xuất khẩu nhóm hàng này sang 3 thị trường chiếm 76% tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước.
Gạo: Trong tháng 3/2026, xuất khẩu gạo đạt hơn 1 triệu tấn, tăng 62,3% so với tháng trước. Tính chung, trong quý I/2026, lượng gạo xuất khẩu đạt 2,28 triệu tấn, giảm 1,2% so với cùng kỳ năm trước và trị giá xuất khẩu gạo đạt 1,07 tỷ USD, giảm 10,9% (tương ứng giảm 131 triệu USD) so với cùng kỳ năm trước.
Gạo của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường ASEAN với 1,37 triệu tấn, chiếm 60% tổng lượng gạo xuất khẩu của cả nước và tăng 19,8% so với cùng kỳ năm trước; xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 334 nghìn tấn, tăng 44,1%. Bên cạnh đó, xuất khẩu sang Ghana đạt 144 nghìn tấn, giảm 17,9% và Bờ Biển Ngà là 144 nghìn tấn, giảm 51,1% so với cùng kỳ năm trước.
Hàng thủy sản: Xuất khẩu hàng thủy sản trong tháng 3/2026 đạt 927 triệu USD, tăng mạnh 31,2% so với tháng trước. Tính chung, trị giá xuất khẩu hàng rau quả trong quý I/2026 đạt 2,64 tỷ USD, tăng 14,5% (tương ứng tăng 334 triệu USD) so với cùng kỳ năm trước.
Hàng thủy sản của nước ta chủ yếu được xuất sang Trung Quốc với 707 triệu USD, tăng 52,3% so với cùng kỳ năm trước; Nhật Bản đạt 365 triệu USD, tăng 1,8%; Hoa Kỳ đạt 343 triệu USD, giảm 7,4%; ASEAN đạt 185 triệu USD, tăng 19,3%...
Hàng rau quả: xuất khẩu hàng rau quả trong tháng 3/2026 đạt 532 triệu USD, tăng mạnh 51,6% so với tháng trước. Tính chung, trị giá xuất khẩu hàng rau quả trong quý I/2026 đạt 1,53 tỷ USD, tăng 31,4% (tương ứng tăng 365 triệu USD) so với cùng kỳ năm trước.
Hàng rau quả của nước ta chủ yếu được xuất sang Trung Quốc với 779 triệu USD, tăng 49,6% so với cùng kỳ năm trước và chiếm tới 51% trong tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước; Hoa Kỳ đạt 130 triệu USD, tăng 16,6%; ASEAN đạt 123 triệu USD, tăng 27,3%.
Dầu thô: Lượng dầu thô xuất khẩu trong tháng 3/2026 là 80,1 nghìn tấn, giảm 71,1% so với tháng trước. Tính chung, lượng dầu thô xuất khẩu trong quý I/2026 đạt 431 nghìn tấn, giảm 26,3% và trị giá đạt 255 triệu USD, giảm 28,8% (tương ứng giảm 103 triệu USD) so với cùng kỳ năm trước.
Dầu thô chủ yếu xuất khẩu sang Australia là 259 nghìn tấn, giảm 16,8% so với cùng kỳ năm trước và xuất khẩu sang ASEAN là 112 nghìn tấn, giảm mạnh 42%.
Xăng dầu các loại: Lượng xăng dầu các loại xuất khẩu trong tháng 3/2026 là 15,2 nghìn tấn, giảm 76,3% so với tháng trước. Tính chung, lượng xăng dầu các loại xuất khẩu trong quý I/2026 là 130 nghìn tấn, giảm 64,8% và trị giá là 64 triệu USD, giảm 75,6% (tương ứng giảm 198 triệu USD) so với cùng kỳ năm trước.
Trong quý I/2026, xăng dầu các loại chủ yếu xuất khẩu sang thị trường ASEAN đạt 129,9 nghìn tấn, giảm 32,2% so với cùng kỳ năm trước và chiếm tới 99,8% trong tổng lượng xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước.
Cơ cấu lại và tối ưu thị trường xuất khẩu
Với kết quả thời gian qua cùng xu hướng thị trường thế giới, thời gian tới, xuất khẩu của Việt Nam có nhiều cơ hội, động lực mới để đẩy mạnh tăng trưởng. Trong đó đáng chú ý là sự dịch chuyển sang các mặt hàng có giá trị gia tăng cao và hàm lượng công nghệ lớn. Các lĩnh vực như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), tự động hóa và năng lượng tái tạo đang trở thành những trụ cột mới cho tăng trưởng xuất khẩu. Việc thu hút đầu tư vào các ngành công nghệ cao không chỉ giúp gia tăng kim ngạch mà còn tạo ra sức lan tỏa, nâng cao năng lực nội tại của nền sản xuất trong nước.
Việc khai thác hiệu quả 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA) đang thực thi là “chìa khóa” để duy trì đà tăng trưởng. Bên cạnh các thị trường truyền thống, Việt Nam đang đẩy mạnh đàm phán và hoàn tất các thủ tục pháp lý để các hiệp định với các nước Trung Đông, Khối EFTA nhanh chóng có hiệu lực. Đặc biệt, thị trường Halal đang mở ra không gian tăng trưởng khổng lồ cho các sản phẩm nông, thủy sản và thực phẩm chế biến của Việt Nam. Các doanh nghiệp biết tận dụng các tiêu chuẩn Halal và xây dựng thương hiệu phù hợp với văn hóa tiêu dùng bản địa sẽ có cơ hội chiếm lĩnh những thị trường có sức mua cao này.
Từ góc độ chính sách, sự chủ động của các cơ quan quản lý nhà nước cũng đang tạo ra động lực mới. Việc Bộ Công Thương liên tục tổ chức các Hội nghị giao ban xúc tiến thương mại định kỳ với hệ thống Thương vụ Việt Nam tại các thị trường nước ngoài và ứng dụng công nghệ số, gần đây nhất là việc khai trương "Nền tảng số về phát triển thị trường nước ngoài", đã và đang giúp cung cấp thông tin cảnh báo sớm, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận các thị trường ngách và tận dụng tối đa các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) mà Việt Nam đang thực thi.
Thông tin tại Họp báo thường kỳ Quý I/2026 của Bộ Công Thương cho biết, từ đầu năm tới nay, công tác hội nhập quốc tế gắn với phát triển thị trường nước ngoài tiếp tục được tăng cường và triển khai đồng bộ với nhiều phương thức, sáng kiến mới. Việt Nam chủ động, tích cực đóng góp có trách nhiệm trong các cơ chế hợp tác đa phương như ASEAN, APEC, WTO, đồng thời phát huy hiệu quả các FTA trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều thách thức. Hoạt động phát triển thị trường được thúc đẩy thông qua lồng ghép mục tiêu kinh tế - thương mại trong các hoạt động đối ngoại, nâng cao chất lượng nghiên cứu, dự báo và tham mưu chính sách, đẩy mạnh đàm phán, ký kết các thỏa thuận hợp tác, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ rào cản, cung cấp thông tin và tăng cường kết nối giao thương, qua đó góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế.
Thời gian tới, Bộ Công Thương tiếp tục đa dạng hóa thị trường, trong đó chú trọng các thị trường mới nổi tại Trung Đông, Mỹ Latinh và Châu Phi; cơ cấu lại và tối ưu thị trường xuất khẩu, cơ bản tập trung nâng giá trị, bám sát xử lý điều tra theo Mục 301 của Hoa Kỳ; Khai thác tối đa lợi thế từ các FTA đang thực thi (CPTPP, EVFTA, RCEP...), đàm phán ký kết các Hiệp định FTA mới. Tập trung xuất khẩu các sản phẩm chế biến sâu, đáp ứng các tiêu chuẩn xanh, tiêu chuẩn Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của các thị trường khó tính. Chủ động hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với các vụ kiện phòng vệ thương mại; nâng cao năng lực cảnh báo sớm...
Việt Hằng